Ý nghĩa của việc đọc sách

Tài nguyên thư viện

SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH GIÁO KHOA

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 THỦY PHÙ - THỪA THIÊN HUẾ!

    SÁCH MỚI HÔM NAY - KỶ NIỆM THỜI THƠ ẤU

    Ảnh ngẫu nhiên

    0.jpg 9.jpg 8.jpg 10.jpg 5.jpg 6.jpg 3.jpg 2.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 2.jpg 1b.jpg 1.jpg Anh_2.jpg Z6484880837783_66eb92177cd25d4fa1c06e01b539f4a0.jpg LTTV3.jpg LTTV2.jpg LTTV_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ SÁCH THAM KHẢO

    SÁCH ĐIỆN TỬ - TÌM HIỂU LỊCH SỬ

    KHÁM PHÁ ĐÓ ĐÂY

    Sự tích hoa Ngọc Lan - The Legend of Michelia Alba

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Huế cõi đất thơm

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
    Ngày gửi: 10h:12' 21-03-2024
    Dung lượng: 19.0 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người


    DX.037801

    IỈ3
    N HÀ X U Ấ T BẢN LAO Đ Ộ N tí

    Huế - Coi đát therm
    Đã có nhiều nmrời giảng giái rằng Huế là từ Thuận
    Hóa mà nên. Mới nghe tưởng là có lý. Bởi lẽ ở thời thịnh
    Nguyền người ta buộc phải kiêng một số tên húy. Ví như
    "hoa” đọc trại thành “ huê” là do bà thân mẫu cùa nhà vua
    Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị) có tên là Hoa. N hưng chi trại
    riêng chữ Hoa thành Huê, Thanh Hoa thành Thanh Hóa
    mà thôi. Không phải tất cả oa đều thành uê, óa đều thành
    uế hết.
    Thì đó, vẫn còn Thuận Hóa, Thiệu Hóa, Tuyên Hóa,
    Minh Hóa, Hướng Hóa, Lạc Hóa, Mộc Hóa, Quy Hóa...
    Chẳng có địa danh “ Hóa” đơn tiết nào để biến thành “ Huế”
    đơn tiết. Nếu nói rằng Huế từ Thuận Hóa mà nên thì phải
    gọi là Thuận Huế mới phải. Xưa nay chưa có sách nào ghi
    Thuận Huế mà chi Huế không thôi. Vả lại khi một từ hoặc
    một cặp từ biến âm thi từ căn bị triệt tiêu. Cho đến nay
    Thuận Hóa vẫn tồn tại đồng hành với Huế đó sao. Sự biến
    âm của một địa danh phải tự thân và tự tại. Thanh Hoa
    thành Thanh Hóa ngay trên địa bàn trước sau vẫn của tỉnh
    đó. Bình Thái thành Binh Thới cũng vậy. Đổi tên nhung
    không đối địa bàn và phạm vi vốn dĩ. Thuận Hóa là địa
    danh kcp ghép hai cháu Tỉuiận và Hóa mà nèn. Thuận từ
    châu Ô. I lóa từ châu Rí.

    "Hui châu ỏ Rí

    V U Ô H ỊỊ

    ngàn dặm

    Một gái thuyền quyên cùa mấy m ư ơ i”.
    (Hoàng Cao Khải)
    Thuận Hóa vuông ngàn dặm mới ôm gọn nửa phía
    nam tỉnh Quảntỉ Trị. toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế và nừa
    phía bắc tỉnh Quảng Nam. Có khi còn rộng hơn gồm hai
    phủ Tân Binh (Quảng Bình), Triệu Phong (Quảng Trị,
    Thừa Thiên Huế, Đà Nang). Sách “Ô Châu Cận Lục” do
    Dương Văn An nhuận sẳc viết về vùng đất đó. Huế chưa
    bao giờ rộng đến thế. Thuận Hóa chưa một lần được coi là
    Thuận Huế. Cũng vậy, Hóa Châu chưa một lần được gọi là
    Huế Châu. Chúng tôi nghĩ rằng Huế là Huế mà Thuận Hóa
    hay Hóa Châu cũng như Thừa Thiên Huế với Huế ngày
    nay thôi. Hơn nừa Huế là một từ đơn. Hóa Châu hay Thuận
    Hóa là một từ kép. Từ đơn thông thường cao tuổi hơn từ
    kép Hán Việt bởi bóng dáng bản địa còn đậm đà. Kẻ Huế
    vẫn được Linh mục Alexandre de Rhodes nói đến khi xứ
    Thuận Hóa đã ra đời được 334 năm và đang tồn tại dưới
    danh nghĩa Thừa tuyên Thuận Hóa ở xứ Đàng Trong.
    Thuận Hóa không bị triệt tiêu khi biến danh thì Huế càng
    không thể do Thuận Hóa mà thành.
    Kẻ Huế có vẻ đầu nguồn cùa ngôn ngữ Việt hơn và
    biết đâu đó lại là “con nòi cùa giống”. Mặt khác xứ Thuận,
    xứ Hóa là một cặp song sinh từ Ô, Rí. Sau năm 1306, Ô
    được đổi thành Thuận, Rí được đổi thành Hóa. Muốn Hóa
    (tức phát triển) điều kiện tiên quyết là phải Thuận. Địa
    danh này ra đời là ánh phản ước vọng cùa lớp người Việt

    đầu thế kỷ XIV. Thuận Hóa lúc đó có hai phủ Tân Bình và
    Triệu 1'hotm. Tân Binh ve sau Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
    đối thành Quàng Bình. Triệu Phong bao uồm Quảng Trị,
    Thừa Thiên Huế. thành phố Đà Nằng và huvện Diện Bàn
    ttuiộc tỉnh Quàng Nam nuày nay. Địa danh Huế chưa bao
    giờ nhận vậy.
    Theo Podharma, “ huế" là tienu Chăm như chừ
    “thơm” của tiếng Việt. Huế = Thơm. Kẻ Huế = Kẻ Thom.
    Như vậy là về ngừ nghĩa huế hoàn toàn khônu có nội hàm
    cùa hóa. Huế không phải từ Thuận Hóa thành.
    Và lại, nêu bảo rằng Huế từ Hóa Châu mà có thì
    trước tiên dân làng Thành Trung (trung tâm thành Hóa
    Châu), dân xã Ọuảng Thành, dân huyện Quảng Điền, được
    tự minh nhận là Huế trước. Nhưng họ còn phải đímg từ xa
    mà nhìn Huế. Với họ, Huế là những dãy phố san sát hai
    bên bờ sông Hương phía trên thương cảng Thanh Hà - Bao
    Vinh. Nơi đó một thuở là thù phù. Một thuở là kinh đô.
    Kinh đô Huế là kinh đô Phú Xuân. Kinh đô Phú
    Xuân bẳt nguồn từ thù phù Kim Long - Phước Yên - Ái
    Tử. Đó là mạch phát từ Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng né
    tránh Hóa Châu là né tránh mổi hiểm nguy bất ngờ từ phía
    Trịnh. Các thế hệ chúa Nguyễn bỏ mặc Hóa Châu bởi một
    thời quan lại do chúa Trịnh phái vào cai quản ờ đó. Hóa
    Châu tàn tạ làm sao mà được hóa thân thành Huế với thời
    Niỉuyễn. Và, cho đến nay địa danh Hóa Châu vẫn còn. Như
    thế là Châu thành Huế không giành Châu thành Hóa cho
    mình. Huế là Huế từ đầu vậy.

    Cũna có khi do nhu cầu xác định địa bàn mang tính
    đặc thù cần sự thuận ngôn tươiiíỉ ứng, Huế được nâim lên
    như một đại diện vùne nam giữa đèo Ngang và đèo Hái
    Vân. Đó là Thanh, Nghệ, Huế, Quàntỉ. v ề mặt địa giới
    Thanh cho tỉnh Thanh Hóa. Nghệ cho cả Nghệ An và llà
    Tĩnh. Quàng cho cả Quảng Nam và Quảng Ngãi. Huế chưa
    bao giờ ôm tất cả địa vực Bình. Trị, Thiên, Dà Nẳng như
    Thuận Hóa một thời. Huế khôny từ Thuận Hóa mà nên
    vậy. Nhung về mặt phong thổ, địa bàn, nguồn gốc dân cư,
    tâm thức, tính cách... Huế trong chuỗi Thanh - Nghệ - Huế
    - Quảng xin được coi là một vùnu đặc trmig về lĩnh vực địa
    văn hóa mà thôi.
    Nhừiig năm đầu Công nguyên, Huế có lẽ là Lô Dung
    - một trong năm huyện cùa quận Nhật Nam (Tây Quyển,
    Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung, Tượng Lâm). Quận Nhật
    Nam bị nhà Hán đô hộ. Văn minh Trung Hoa bất đầu gia
    nhập vào bộ phận dân chúng vốn là chủ nhân cùa văn hóa
    Sa Huỳnh có sự xen cư với chù nhân văn hóa Dông Sơn
    mà trước đó vốn đã tìm được ánh sáng cùa nền văn minh
    Án Độ cổ đại. Sự pha trộn như thế làm nên sắc thái riêng
    cùa cộng đồng dân cư bẳc Chăm pa. Cuối thế kỷ thứ hai
    sau Công nguyên, nhân dân huyện Tượng Lâm (Quảng
    Nam, Quảng Ngãi) nổi lên chổng quan quân nhà Hán với
    sự hưởng ứng không chỉ của các huyện thuộc quận Nhật
    Nam mà còn của quận Cửu Chân (chủ yếu là An Tĩnh).
    Nhà nước Lâm Ẩp ra đời nghiêng hẳn về phía Ần Độ bởi
    tính thuần lương vô tư và Irong sáng cùa nền văn minh này.
    Án Dộ giáo, Bà La Môn giáo, ỈMiật giáo phát sáng. Vươnu

    triều Gangaraja ra đời chọn Trà Kiệu làm kinh đô khai
    sánu. ỉ)ó là Sinhapura. Sinha là sư tứ. Pura là thành phổ.
    I hành phố mang tên sư tứ phái chăng là khát vọng về sự
    tim kiếm sức mạnh đề tự cường trước nạn bành trướng cùa
    các thế lực phươim Bắc luôn luôn là nguy cơ. Tín ngưỡng
    Án Độ là cứu cánh làm chồ dựa cho vương triều mới mà
    Phật giáo đóng vai trò tích cực để bình ổn xã hội sau vài ba
    trăm nãm bị dô hộ. Tron” bối cảnh đó Nam Chăm thảnh
    thơi đi với Án Độ giáo, Bà La Môn giáo, tự lập mà lớn lên.
    Băc Chăm và Nam Chăm hằn thành những nét dị biệt trên
    nền tươna đồníỉ vì lẽ đó.
    Năm 446 Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi của nhà
    Tiền Tống đánh chiếm Lâm Áp. Kinh đô Sinhapura bị
    cướp pliá nặng nề. 159 năm sau, kinh đô Sư tử này lại bị
    Lưu Phương của nhà Tùy tàn phá cướp giật. Vương triều
    Gangaraja hai lần gặp đại nạn từ phương Bắc, nên tan nát
    và suy yếu, khó phục hung. Trong khi đó phía nam yên ổn
    hơn. Án Độ giáo và Bà La Môn giáo mặc sức lan tỏa ảnh
    hưởng và chi phối mọi sinh hoạt xã hội. Sức mạnh và sự
    phát triền yên lành từ phía nam trở thành lực hấp dẫn.
    Vương triều Panduranga ra đời, kinh đô Chăm pa chuyển
    về phía trong lấy Po Naga làm trung tâm quyền lực. Po
    Naga tôn thò nữ thần Uma - vợ của thần Siva chính là tôn
    thờ Ấn Độ giáo.
    Sang thế kỷ thứ VIII tình hình xã hội phương Bắc từ
    Tùy. Đườnu đến Lươnt». Tấn không yên. nhân dân bị trị
    các quận Giao Chi, Cửu Chân liên tiếp nồi dậy. bắc Chăm
    v ớ i dịa bàn cư trú rộnu. dân cư đông, ruộntỉ đồng màu mỡ

    lại bình yên dưới bóng Bồ Đe, tái tạo nên lực hấp dẫn.
    Vương triều mới có lẽ của Inđravacman li chiếm ưu thế.
    Kinh đô Chăm pa lại chuyển ra bấc Chăm. Đồni» Dươntỉ
    nay thuộc xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tinh Quảng
    Nam được lựa chọn de xây dựng kinh đô ánh sáng chiếu
    bởi hào quang. Đó là Indrapura. Indra là thần ánh sáng tức
    hào quang. Pura là thành phố. Thành phố của thần ánh sáng
    - hào quang chính là thành phố cùa trung tâm F^hật giáo.
    Bởi chỉ có chư vị Phật, chư vị Bồ tát mới phát sáng hào
    quang. Indrapura - Đồng Dương cách Sinhapura - Trà Kiệu
    kinh đô cũ 15km về phía đông nam là kinh đô Vương triều
    đồng thời là kinh đô Phật giáo.
    Huế của Ô, cùa Rí, cùa Lý rồi cùa Hóa nằm trong
    vòng tỏa sáng cùa ánh hào quang Indrapura - Đồng Dương.
    Vương triều Dồng Dương đề cao thần Inđra như là sự dung
    hòa tín ngưỡng Ân Độ để cổ xúy và phát huy ảnh hưởng
    cùa Phật giáo trên toàn Vương quốc. Po Naga vì thế không
    còn chiếm vị trí trung tâm và vai trò cùa Nữ thần Uma, vợ
    cùa thần Siva tùng được tôn thờ trong các đền tháp Po
    Naga tượng trung cho quyền lực nhà vua cũng giảm thiêng
    liêng nên phai nhạt rồi tàn tạ dần. Từ đó chùa tháp thờ Phật
    uy nghi lộng lẫy không chi ở Đồng Dương mà hầu như
    được cồ xúy trên toàn bộ địa bàn bắc Chăm pa. Mối quan
    hệ giữa hoàng gia và hàng ngũ giáo phẩm gắn bó mật thiết
    hơn. Có thể nói không nhầm, với Vương triều Đồng
    Dương, Phật giáo cũng đã lên ngôi.
    Theo Cố Giáo sư Trần Ọuổc Vượng thì Phong Nha
    (Quàng Bình) một thời là thánh dịa Phật giáo. Trà Kiệu

    10

    phía trong. Trà Kệ phía ngoài bị ngăn bởi dãy Ngãi Lãnh
    về địa thế nhưng không ngăn hai vùng dân cư vốn là anh
    em một nhà về mặt tâm linh. Huế nằm giữa Đồng Dương Phonc Nha, nằm giữa môi trường tín ngưỡng đó lẽ nào
    không thấm đẫm màu thiên.
    Đọc những tranu viết cùa Giáo sư Lương Ninh về
    bia An Thái (Quảnu Nam) thời Bơ - ha - đra - vác - man III
    có đề cập đến việc xây dựiig chùa cho Nauapuspa ờ Đồng
    Dươnsỉ, rồi liên hệ với địa danh Long Thọ bên cạnh Thành
    Lồi (có thể là thành Phật Thệ ở Huế), tôi cứ ngờ ngợ dưòmg
    như có mối liên hệ nào đó về hai vùng dân cư trong ngoài
    đèo Hải Vân. Long Thọ Bồ tát chính là Nagarjunas. Thành
    Lồi và Long Thọ nằm ờ bờ nam hữu ngạn sông Hương.
    Chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê, mà thuở khai sơn mang
    tên là Thiên Mỗ, trước đó có lề là nền đền tháp Po Naga
    thờ Mẹ Xứ sở, đối ngạn lập thành một cụm trung tâm đứng
    giữa hệ quy chiếu Núi - Biển là Vân Trạch Hòa - Thiên Mụ
    - Thành Lồi - Linh Thái (cửa Tư Hiền).
    N h ư vậy là chùa Thiên Mỗ đã đứng lên trên nền đền
    tháp Po Naga cổ một thời thờ N ữ thần Uma mà cư dân bản
    địa coi là Mẹ Xứ sở. Po Naga phai mờ. Đền tháp cùa Bà,
    thờ vợ thần Siva Ẩn Độ giáo trở thành chùa cùa Mụ, thờ
    chư vị Phật, chư vị Bồ tát là quá trình chuyển giao Nam Bắc, chuyển giao Chăm - Việt. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
    không phải là người khai sơn mà chi là người biết thừa kế
    tái thiết. Tái thiết chùa nhung không tái thiết tên chùa.
    Thiên Mụ cũng là ĩhiên Mỗ. Suy cho cùng thì vẫn bảo lưu
    tư tưởng ihờ Mẹ Xứ sờ đó thôi.

    Vân Trạch Uòa là cụm tháp nàm trên vùng đất có lẽ
    là thánh địa mà chúng ta chi mới nhìn thấy bệ thờ cũng đú
    nhận ra các tư thế đành lễ, tôi nghĩ là cùa các chư vị Phật,
    chư vị Bồ lát cùng các vị thần Brama, Visnu, Siva. Có lẽ
    người xưa đã từng dung hợp tín ngưỡng Ản Độ nên đã coi
    vùng thánh địa này là cõi “Tây Thiên” - Su Mê ru chăng?
    Và biết đâu, do một sự lình cờ ngẫu nhiên khi mặt trời tụt
    xuống phía sau dãy núi nay có tên là Kim Phụng - Thọ Sơn
    đã bẳn lên những tia hào quang rẽ quạt làm người ta liên
    tường đến miền cực lạc và thế là tên Thất Thế Giới Sơn Su Mê ru được gán cho dãy núi này. Đã có Su Mê ru
    đương nhiên phải có Hương Thủy Hải. Dòng sông trong
    xanh thanh bình sâu lẳng nằm dưới chân phía đông Thất
    Thế Giới nghiễm nhiên được mang tên sông Huế, sông
    Thom như là Biển Nước Thơm (Hương Thủy Hải) trong
    kinh Phật. Hương Thủy Hải trên thực tế là dòng sông nên
    trong văn tự sinh hoạt đời thường được gọi là Hương Thủy
    gianỵ. Hương Thủy giang rút gọn thành Hươntỉ Giang từ lẽ
    đó. Tôi không ngã về phía lý giái cảm nhận ràng sở dĩ có
    tên sông Hương vì mùi thơm của hoa thạch xương bồ hay
    cây hương huyền thoại của chúa Tiên Nguyễn Hoàng bên
    bờ sông trước chùa Thiên Mụ. Thạch xương bồ có chăng là
    trên A Roằng, A Đớt mà cây hương huyền thoại thì mãi
    đến năm Tân Sửu, 1601 mới thành chuyện. Địa danh Huế
    lại ra đời từ thuở sinh thành, ỉluế là Thơm, là Hương vậy.
    Huế khôníi từ Thuận Hóa mà nên bời cả lẽ này nữa.
    Diều lôi muốn “ nghĩ về xứ Huế xa xưa” chủ yểu là
    nghĩ ve vị thế địa lịch sử và địa văn hóa đã làm nên địa
    danh này.

    12

    Bừ biển nước ta có hai vành ciiim lớn. L.ồi và lõm.
    Cung lõm từ Mórm Cái. địa đầu phía bắc tinh Quàng Ninh
    vào đến mũi Chân Mây, mút cuối cùa tinh Thừa Thiên
    Huế. Cung lồi từ mũi Chân Mây xuống tận mũi Cà Mau.
    Cune lõm như ôm một phần tây bộ Thái íỉình Dương.
    I'rong giới hạn vòim cung này từ đảo c ồ n c ỏ ra đến đảo
    Cô Tô (ngoài bi én), từ Tiên Yên vào tận Hương Trà (trên
    đất liền) rải rác xuất hiện dấu vết các lớp người tiền sử và
    sơ sừ xa xưa. Huế nằm trong vòng cung loài người trên đất
    Việt. Huế cũng có một thời Sơn Vi (hậu kỳ dồ đá cũ) hoặc
    cùng thời Sơn Vi (2-2,5 vạn năm trước). Huế có Sa Huỳnh
    lại có cà Dông Sơn mà các vùng lãnh thô của nước ta
    không phải đâu cũng có sự hiện diện của cả hai nền văn
    hóa đặc sac này.
    Với chúng ta ngày nay, một câu hòi được đặt ra là:
    Huế vào Sa Huỳnh hay Sa Huỳnh ra Huế? Đông Sơn vào
    Huế hay Huế ra Đông Sơn?
    Tất cả còn chờ. Nơi phát hiện được di chỉ văn hóa
    trước chẳc gì đã là địa bàn phát tích duy nhất cùa nền văn
    minh đó.
    So với Sơn Vi (Phú Thọ) cương vực Huế lý tường
    hơn nhiều. Huế gần biển, ấm áp, lắm sông ngòi, đâm phá,
    lẳm núi non hang động. Biển với lẽn Trường Sơn và
    Trường Sơn vươn ra biển làm điểm cặp gỡ kỳ tú ngàn đời.
    Trong cái vòng cung ôm biển. Huế ờ vị trí hàng đầu nhô ra
    đại dương. Huế có Sơn Vi là phải. Tiếc ràng phát hiệp
    nỉìẫii nhiên vè sự xuất lộ ''end choppe” loại hình Sơn Vi ở

    13

    làng Ngọc Hồ không được đế ý. Tiếp sau Sơn Vi, Huế có
    đầy đủ ba kỳ cùa thời đá mới. Dông Sơn và Sa Huỳnh từ
    trong ra, ngoài vào hay tự ba kỳ đó mà nên? Chưa biết
    quan tâm thì chưa thể trả lời được. Nhung đã có Đông Sơn,
    có Sa Huỳnh là có liên minh bộ lạc, bộ tộc và có thể cũng
    đã trải qua các giai đoạn mà Kinh Dương Vương, Lạc
    Long Quân, Hùng Vương, An Dương Vương làm thù lĩnh.
    Âu Lạc bị chiếm. Nghìn năm Bắc thuộc các quan Thứ sử,
    Thái thú khó với tay qua dải Hoành Sơn. Huế nằm ngoài
    tầm đô hộ nhiều ngày hơn. Nhờ thế nước Hồ Tôn có lè là
    tiền thân cùa Vương quổc Champa ra đời tách khỏi Việt
    Thường Thị. Đèo Ngang từ quy ước phân vùng nội bộ
    nghiễm nhiên đóng vai biên cương phía bắc cùa Vương
    quốc mới này. Chăm pa hưng vong. Huế thăng trầm theo
    dòng lịch sử.
    Bởi nhờ có Hoành Sơn mà Huế không đậm văn
    minh Trung Hoa cổ đại. Bởi vướng Cù Mông, Ngãi Lãnh
    (Hải Vân), Huế gắn bó với nền văn hóa Ẩn Độ cổ đại
    nhưng không thật vẹn toàn. Huế đứng giữa hai nền văn
    minh ấy. Huế gặp gỡ, tiếp thu cả hai. Vô thức nhiều hơn
    hữu thức. Cái thế của Huế làm nên cái lý cùa Huế phải vậy.
    Đông Sơn hay Sa Huỳnh gặp nhau ờ Huế, xuất phát từ Huế
    cũng tự cái lý ấy, tự cái vị thế ấy.
    Văn minh Ẩn Độ, văn minh Trung Hoa nhập vào đất
    Huế, hòa đồng với văn hóa bản địa để làm nên bản sắc Huế
    đứng giữa đất nước không thiên bắc, không thiên nam. Huế
    là An - Tĩnh - Bình - Trị nối dài. Huế có gốc Thanh mà
    khônq đậm Thanh. Thanh đứng đầu Trung nhưng lại thiên

    14

    13ắc. flue gần Nam - Nuãi mà không như Nam - Ngãi. Việt
    cổ nơi Huế đậm hơn các nơi khác để Giáo sư Nguyễn Đức
    Từ Chi nhìn ra món ăn Huế, món ăn Mường. Tôi được
    sổng với Huế gần tròn ba mươi năm lại thấy sự bình dân
    cùa Huế giốnu như sự bình dân ở xứ Nghệ - Lam Hồng,
    quê tôi.
    Có những người Việt từng làm quan ờ Vương quốc
    Chăm pa. Có những người Chăm tham gia khởi nghĩa cùa
    Hai Bà Trưng, tham gia kháng chiến chống quân Minh
    xâm lược đầu thế kỷ XV.
    Huế Chăm, Huế Việt từng có chung một “ bộ Việt
    Thường''. Huế xa xưa là Việt. Huế xa xưa là Chăm đều
    chung vai gánh hai đầu đất nước.
    Vâng, Huế cổ đại, Huế trung - cận đại, Huế hiện đại
    vẫn là gạch nối Bắc - Nam. Vạch nối ấy có nhiều lần bị đứt
    bời sự xâm lăng ngoại tộc hoặc nội chiến vương triều.
    Nhưng sau mỗi lần đứt võ đều được nối lại bền hơn, chẳc
    hơn bời nhu cầu thiêng liêng cùa cả cộng đồng.
    Nghìn năm Bắc thuộc, Huế đứng bên ngoài ách đô
    hộ Hán, Tấn, Tùy, Đường... đành chơi với văn minh Ẩn
    Độ. Những đền tháp Chăm còn đó là dấu ấn cùa một thời
    ly khai đất tổ ở thế chẳng đặng đừng.
    Nuô Quyền iùa được quân Nam Hán ra ngoài cõi
    (năm 938) đặt cơ sờ cho các dòng họ Đinh, Lê, Lý, Trần,
    Lê, Nguyễn xây dựng và cùng cổ nền độc lập tự chù. Huế
    nhập về với Dại Việt trong mối tình cố cựu để làm đầu cầu
    phục hưng nửa nước Việt phương Nam.

    15

    Huế là thành phố đang đóng vai trò tinh lỵ cùa tinh
    Thừa Thiên Huế. Huế là đại diện không gian vãn hóa nằm
    trong chuỗi Thanh - Nghệ - [^uế - Quảng. Với tính đặc thù
    và cả với vị thế địa lịch sử, địa văn hóa, Huế mãi mãi
    THƠM trong lòng non nước Việt. Xin đừng nhìn Huế qua
    cơ sở hạ tầng. Bởi lồi đó không chi riêng tại Huế mà “Cả
    nước yêu thương ôm Huế vào lòng” đang còn là tiếng hát.

    16

    Từ Vân Trạch Hòa nghĩ về
    Lỉnh Thái Tư Hỉền
    Làng Vân Trạch Hòa thuộc xã Phong Thu, huyện
    Phong Điền nằm trên một vùng gò đồi cận sơn bên tả ngạn
    (bờ bắc) sông Ò Lâu, cách trung tâm thành phổ Huế 40km
    về phía tây.
    v ề địa lý hành chánh, Vân Trạch Hòa thuộc tỉnh
    'Phừa Thiên Huế nhưng về địa hình thì nó là dải gò đồi
    đông Trường Sơn nằm giữa sông Bồ (Thừa Thiên-Huế) và
    sông Thạch Hãn (Quảng Trị).
    Xa xưa nơi đây còn là khu rừng già, tên cũ chưa tra
    cứu được. Vân Trạch Hòa là tên mới ghép hơn nửa thế kỷ
    nay do dân cư ba làng Vân Trình, Phò Trạch, Hòa Viện lên
    lập nghiệp mới có. Giữa xóm Hòa Viện trên một đỉnh đồi
    cao hiện còn phế tích của khu đền tháp Chăm đã đổ sập
    hoàn toàn. Hơn một nửa khu vườn nhà anh Phong (trưởng
    thôn) là những lớp gạch và những viên đá tảng có lõm chân
    cột, nhiều khối đá vuông, vài trụ đá dài nằm bừa bộn ngổn
    ngang dưới gốc mít, gốc chè.
    Phía sau vườn nhà anh Phong, vốn là vườn chùa, nay
    chỉ còn lại một cái am nhỏ đúng giữa vạt cỏ càn cỗi hoang

    17

    vu với những hố đào ngốn ngang cùa những người đi tìm
    kiếm cổ vật kết hợp rà sắt thép vụn. Í3ệ thờ bàng đá lớn và
    một vài mảng phù điêu hình lá đề được phát hiện tình cờ
    tại khu đất này. Từ đó Vân Trạch Hòa bat đầu có tên trong
    bàn đồ khảo cổ học Việt Nam. Đầu nguồn sòng Ò Lâu
    phần địa bàn thuộc tỉnh Quảng Trị nàm phía sau Vân Trạch
    Hòa, ngày trước có cụm tháp Hội Diền, cũng kỳ vĩ lắm.
    Chúng ta chưa có điều kiện điều tra thám sát loàn bộ khu
    vực miền tây hai huyện Hải Lăng (Quảng Trị) và Phong
    Điền (Thừa Thiên Huế) nhung qua sự hiện diện hai phế
    tích cùng một loại hình kiến trúc đền tháp Hội Điền - Vân
    Trạch Hòa cũng đù gợi nên một vùng thánh địa Chăm pa
    trong quá khứ.
    Nếu ta kẻ một đường thẳng từ giữa Hội Điền - Vân
    Trạch Hòa qua trung tâm Thành Lồi (có lẽ là Khu Túc, hay
    Phật Thệ) nay thuộc xă Thủy Biều, Thành phố Huế thì đinh
    đồi Hà Khê nơi có chùa Thiên Mụ với núi Linh Thái bên
    cửa biển Tư Hiền (Tư Dung, Tư Khách) mà trên đỉnh có
    tòa tháp Chăm một thuở uy nghi cùng nằm trên đường
    thẳng này. Khoảng cách từ Vân Trạch Hòa đến thành Lồi
    tương đương khoảng cách từ thành Lồi đến cửa biển Tư
    Hiền - Linh Thái (xấp xi 40km mỗi bên).
    Người xưa đã lập thánh địa nằm trong hệ quy chiếu
    này chăng?
    Ô Lâu - Ò Châu, sông Bồ - Ngũ Bồ là những địa
    danh vương vấn bên dòng sông hiện thời còn đó như nhắc
    ta một thuở huy hoàng đấqua.

    Nhữníỉ phế tích dền. iháp cố Chămpa dày đặc trên
    đất Huế từ Phong Hòa. Phone Thu, Phong Mỹ. Phong Sơn,
    Phonu Hiền, Phong Chương, Quảng Vinh. Quảng Thành,
    Quảng Thọ, Hương Xuân. Hương Toàn, Hương Vinh,
    Hương Long, Hương Hồ, Thủy Biều, Thủy Phương, Phú
    Diên. Vinh Hà, Vinh Thái, Vinh Hiền, Lộc Vĩnh, Lộc
    Hài... cho ta nhìn lại một thuở Lâm Ẩp - Hoàn Quốc xa
    xưa. Các xã Phong Thu, Phong Sơn, Phong Mỹ đứng đẩu
    nguồn sôníỉ 0 Lâu, sông Bồ, qua Thành Lồi nhìn ra cửa Tư
    Hiền, giống như Thánh địa Mỹ Sơn đứng đầu nguồn sông
    Thu I3ồn qua Trà Kiệu nhìn ra biển Hội An.
    Sự nổi kết tây - đông, núi - biển trong tâm thức tín
    ngưỡng chịu sự chi phối cùa Ấn Độ giáo, Phật giáo hằn lên
    trong lổi bổ cục xây dựng đền tháp Chămpa theo hệ quy
    chiếu cổ điển này.
    Sumêru - Hương Thủy hải luôn luôn là cặp song sinh
    trong quá trình sáng tạo miếu đền chùa tháp.
    Vân Trạch Hòa vẫn ngổn ngang gạch đá, dân đi dũi
    đất thăm tìm cùa quý vẫn lự do hành nghề. May mà cái bệ
    thờ quá lớn chúng chỉ sờ vào vài cụm tượng góc thôi. Chi
    sờ là nói lên tai họa chưa nặng lắm nhưng cũng đù bịt mắt
    những người thiện chí hiền lành muốn nhin về dĩ vãng.
    Những góc bị mất là gì, ra sao ngoài những người có trình
    độ “văn hóa ăn cẳp” lành nghề trực tiếp làm việc đó không
    ai biết.
    Bệ thờ ba tầng ghép bởi hai khối đá có mặt bằng hình
    vuông và các mặt bôn thẳng đứng hình chừ nhật. ĩầng
    dưới và tầng thứ hai là một khối đá được the hiện nhiều

    19

    cụm iượim nừa tròn nứa phù diêu (chù vếu ở bổn uóc và
    bốn mặt dứnu). 'ỉ ầii” dirói. có độ cao trunii bình là I 55mm,
    chiều dài là 1 170mm. Tầng thứ hai có chiều cao trung bình
    là 95mm. chiều dài là 870mm, chù yếu để làm điểm tựa
    cho các cụm tượna ờ tầng dưới nhô lên dồng thời làm đế
    định vị cho tầng ba (trên). Cạnh trên của tầng hai này được
    khẳc sâu vào 20mm làm thành một gờ chìm chạy quanh
    bốn mặt. Giữa mặt bằng tầng hai được đục một ô vuông
    sâu 25mm, rộng 566mm.
    Tầng ba (trên cùng) là một khối đá vuông mồi cạnh
    mặt vuônti là 565mm, cao toàn khối là 280mm. Viết “toàn
    khối”, bời nếu tách tầng ba ra mà xét thì có ba phần: thân,
    dai. chân. Thân cao I90mm, bốn mặt đều có bốn hợp thể
    phù điêu. Mồi hợp thể đều có ba mảng cân đối. Dai là một
    gờ nổi ra khỏi thân 30mm, rộng 40mm, vừa làm đế cho
    bốn hợp thể phù điêu vừa trang trí như là giới hạn để dễ
    phân định với hai tầng dưới. Chân tầng ba tính từ gờ nổi
    xuống cạnh đáy là 50mm, một phần (25mm) ngập sâu vào
    lòng ô vuông cùa tầng hai (giữa), còn lại 25mm là khoảng
    cách tách đai ra khỏi mặt bàng đế (tầng hai).
    Bệ thờ Vân Trạch I lòa được đào lên từ điểm cao nhất
    của khu phe tích, có lẽ đó là trung tâm lòng tháp. Trên bệ
    thờ có một khối đá hình tháp Ai Cập, chia thành hai phần.
    Trên là một khối chóp, bốn mặt là bốn lam giác gần đều có
    các cạnh dài 500mm. Dưới là một khối chữ nhật có chiều
    cao 1 lOmm. chiều rộng 350mm. như một cái mộng đơn.
    Cà hai phần có chiều cao tổng cộne là 470mm. Nóc khối
    chóp tam tiiác khôtiíỉ đều, bởi hai góc bên khoảng 60 độ.
    hai ỊZÓC còn lại có một đoạn n.uan.í» nối khoàn.u 20mm. Nhìn

    20

    toàn khối chóp uiốnu như một cái bánh lì uhép bởi hai hình
    tam giác đều đối xứng và hai hình thang (cạnh trên rất
    imấn = 20mm) cũniỉ vậy. Tôi tmhĩ ràng đây là khối đá úp
    nóc tháp vừa chốnu dột vừa tạo mũi nhọn cho đinh tháp vút
    lên cao.
    Theo vị trí đặt bệ thờ này tại phònu Irưim bày cùa
    Bào tàna Lịch sử tỉnh Thừa Thiên-Huế (trườnu Hàm Nízhi
    cũ - số 3 đirờnu 23 tháníi 8) thì mặt hướn« ra cửa được coi
    là mật ngoài có mười hai hợp thể trang trí. Hai góc bị đục
    mất còn lại mười nhóm như sau:
    Nhóm giữa là ba tượng người ngồi trên lưng một con
    chim lớn đang gianti rộng cánh cùa tư the bay (tầng dưới).
    [ỉên trái (trừ góc) có hai chim ngồi trong cửa (nhìn
    chính diện) hai bên một vòm cuốn dạng chữ u ngược.
    Trong vòm cuốn là một nữ thần đứng chắp hai tay trước
    ngực. Ba nhóm bên phải (từ góc) cũng vậy.
    Tầng trên có ba nhóm: hai bên là hai ô vuông được
    trang trí chạm nổi bốn cạnh, ờ giữa ô vuông lớn đó là hai ô
    vuông nhò đồng tâm. Giữa hai ô vuông lớn đối xứng hai
    bên là nhóm phù điêu chính gồm một vòm cuốn gần tròn
    bao chuníĩ quanh tượng người ngồi hai chân xếp tư thế kiết
    íĩià. tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm lá phưón.
    Mặt trong có lẽ là mười bốn nhóm, nhưrm bị đục
    mal một nhóm. G iữa là người níiồi trên voi. Phía trong
    sau lưníỉ voi là một người ngồi trong vòm cuốn tay chap
    trước nuực. chân phải chốim. chân trái ở tư thế bán íìià.
    ( j ó c t rá i m ặ t t r o im chung v ớ i ÍZÓC p h ả i mặt bên phải là

    21

    một khối lượng dưới có hai con vật dạng nhân sư và trâu.
    Irên là ba pho tượiiíỉ người. 1'ượng giữa (chính góc) ngồi
    chống chân phải, tay phải cầm lích trượng, tay trái chổng
    xuống bệ ngồi (sát mông). Hai tượng bên chẳp tay đảnh
    lề. Tượng bèn trái chống chân phải, tượng bên phải chống
    chân trái. Góc phải mặt trong chung với góc trái mặt bên
    trái của nhóm tirợng dưới là hai con vật có lẽ là nhân sư
    với lẻ giác. Phần trên bị dục gãy. Hai bên nhóm voi là hai
    tượng nữ thần đứng đảnh lễ trong hai vòm cửa kết bời các
    lá nhT và bổn con chim, đối xứng từng đôi qua hai tượng
    nữ thẩn. Tầng trên giữa là tượng người ngồi kết già, hai
    tay đặt trên hai đầu gối như bắt quvết, trong nửa vòm
    cuốn gần tròn. Hai ô vuông trang trí lá quỳ, hoa lựu đối
    xứng như mặt trước.
    Mặt bên trái cũng có thể là mười bốn nhỏm. Nhóm
    giữa là một người ngồi trên tòa sen kép đặt trên lưng bò.
    Phía trong có hai nhóm trong hai vòm cuốn chừ u ngược là
    hai người ngồi đảnh lễ. Người ngồi bên trái chống chân
    trái, người ngồi bèn phải chống chân phải. Góc bên trái
    chung với góc bên phải mặt trong. Góc bên phải chung với
    góc trái mặt ngoài (đã mất). Ba nhóm tượng trên lưng bò
    đã bị mất. còn lại ba tòa sen kép. Tượng giữa tầng trên bổn
    tay. Hai tay giơ ngang tai, bên phải cầm tâm ấn, bên trái
    cầm một khối bầu dục. vẫn có hai ô vuông, hai tượng nữ
    thần đứnu và bốn con chim ngồi đối xứng từng cặp như ba
    mặt bên.
    Mặt bôn phải có thể phân thành mười ba nhóm. Bốn
    chim ngồi, hai nữ thần đứnu như các mặt bên. Góc trái
    chunii với tzóc phải mặt ngoài là ngựa và imười đã bị đục

    22

    mất mới thu lại. Góc phải chung với góc trái mặt Irong là
    nhân sư chung với trâu đỡ ba pho tượng như đã trinh bày.
    Mưu ý mặt này là phần uiữa có ba tầng tượng. Tượng tầng
    trên ba đầu, hai tay đặt lên hai đầu gối ở thế kiết già. Tay
    trái cầm hồ lô. Tay phải cầm chùm hoa. Bẽn níỉoài hai tay
    có hai tượnu người nhỏ quỳ một chân, mông ngồi lên bàn
    chân còn lại. Lớp tượng thứ hai có ba người ngồi trên ba bệ
    riciiü đều chốnu một chân. Tượng iỉiừa và tượng bên trái
    chốim chân phải, tượng bên phải chống chân trái. Riêng
    tượng giữa ngồi trôn đài sen đơn, to cánh và rộng, phía sau
    có hai dáng nmrời như gợi ý về một “ Bảo tọa” với ba lớp
    nmrời: ỉ)ức Phật, chư vị Bồ '1'át với chúng sinh. Lớp tượng
    dưới là một nmrời níỉồi kiết già, tay phải cầm tích trượng,
    tay trái đặt lên đầu uối trái. Hai bên có hai người già tóc và
    râu dều dài đang hạ gối đảnh lễ. Có lẽ đây là sự mô phỏng
    truyền thuyết về các tu sĩ Bà La Môn giáo đã được giác
    ngộ Phật.
    Hiện vật Vân Trạch Hòa, ngoài bệ thờ, chóp tháp còn
    có một nửa phù điêu hình lá đề cao 860mm, cạnh đáy còn
    lại 600mm (dưới đế). Bên trong là tượng một người ngồi
    lên gót chân trái, chân phải chống ngập ngừng. Hai tay
    trước chấp lễ. hai tay sau giơ ngang tai. Bên trái có một trụ
    dạng tích trượng. Phía trên lay trái sau là một tâm ấn có
    chừ thập càn ờ giữa. Phía trên tay phải sau là một khối nổi
    nhỏ «iổno như ngọn lừa. Dirới tượng người còn có một con
    lợn quỳ mẹp xuốnu sát iiờ gáy (có lẽ không phải tê giác).
    Toàn bộ các nhóm tượng dường như đều đặt trên các
    tòa sen dưới dạng kiết già, trích tượng, tâm ấn, giáo huấn,
    đánh le. giác ngộ. với các hinh tượng Tây Phương Tam

    23

    Thánh. Mã Minh Đại Sỹ, Đại Thế Chí... gợi lên troniỉ tôi
    về Vân 'I rạch Hòa như là mộl bộ phận cùa Thánh Địa Phật
    giáo, đế từ biển Linh Thái trông lên phía Thành Lồi người
    ta dễ tưởng thấy hùng vĩ một dải Sumcru hùng vĩ. Và, từ
    núi Thất Thế Giới qua Vân Trạch Hòa - Khu Túc (Thành
    Lồi) nhìn về phía Linh Thái thấy Hương Thủy Hải mênh
    mông.
    Huế thấm đẫm môi trường thiền lừ những điều
    như thế.

    24

    Tháp và am Liếu Cốc
    Tháp và am Liễu Cốc tọa giữa xóm Bàu Tháp, làng
    Ucu Cốc Thượng, xã Hương Xuân, huyện Hươiig Trà. cách
    truny tâm thành phố Huế lOkm về phía bẳc - tây - bắc.
    Liễu Cốc xưa là một làng lớn, đất rộng người
    thưa, địa thế nhiều cấp độ: núi, đồi, gò, biền, bàu liên
    hoàn từ dãy Thế Giới sơn ra đến gần sông Bồ. Liễu Cốc
    có một vùng bình nguyên rộng góp phần làm nên vựa
    lúa H ương Trà.
    Ngày xưa tuyến thiên lý từ phía bắc vào, vượt qua
    sôniỉ Ò Lâu, men theo bờ phá Tam Giang nối Sịa (xã
    Quáng Phước) với thành Hóa Châu (Lý Thành) nay thuộc
    xã Quàng Thành rồi đến Thanh Hà - Bao Vinh (thương
    càng cổ) xã Hương Vinh mới sang sông Hương bằng đò
    ngang ở bến gần chợ Được thuộc làng Thụy Lôi (nay là
    phường Phú Hòa, Phú Cát, Phú Hiệp, thành phổ Huế). Nếu
    đi đưừnu thủy thì xuống bến Ò Lâu rồi theo phá Tam
    Giang xuôi cửa Tư Hiền vượt Hang Dơi dưới chân Ngãi
    Unh (sau gọi là Ải Vân).
    Tuyến đường Thiên lý ấy cho các lớp imười “ nam
    tien" thấy mà quen dần những dền, tháp hùng vĩ, những
    vùnu Thánh địa Liy nghi cùa một thời Chămpa.

    25

    Từ Phong Nha. Lộ Sơn, Dại Hữu (Ọuáng ỉỉình) đến
    An Xá, Dương Lệ. Hội Diền (Quảng Trị) rồi Phong Hòa,
    Phong Thu, Phong Sơn. Phong Mỹ, Phorm Hiền, Quảng
    Vinh, Thiên Mụ, Thành Lồi... và Linh Thái đứng trên một
    tầm cao giữa mây xanh nước biếc bên đại dương mênh
    mông (Thừa Thiên - Huế)... như là những gợi ý ứng xử ban
    đầu cho những người đi mở nước trên vùim đất lạ.
    Các lớp người ấy hoặc đi bộ hoặc đi thuyền đều
    qua Hóa Châu và có lẽ (nếu cần) họ còn nghĩ lại. Thành
    Rí cùa một thời Châu Rí rồi trở nên thành Hóa Châu cùa
    một thời Thuận - Quảng làm “đầu cầu” vào nam cùa xứ
    d Ằn g t r o n g .
    Tháp đôi Liều Cốc đứng trên một gò đất cao giữa
    bình nguyên hữu ngạn sông Bồ cách Hóa Châu thành hơn
    một cây số về phía chánh tây. Đứng ở 'T h àn h Lý” ấy nhìn
    vào Liễu Cốc và ngửng cao lên nóc tháp ta sẽ gặp ngay
    đinh trung tâm cùa dãy luìi Thất Thế Giới xưa là một khu
    rừng già uy linh vời vợi.
    Cuối Ihế kỳ XIX, người Pháp mở con đường xuyên
    Đông Dương. Nay là quổc lộ số Một. Quốc lộ số Một chạy
    qua làng Liễu Cốc nên mới sinh ra Liễu Cốc Thượng và
    Liễu Cốc Hạ. Xóm Bàu Tháp do một người ở Liễu Cổc
    Thượng chiếm trước, khai canh, thật ra là khai khẩn trên
    một địa hình cồn - bàu đã bỏ hoanu hóa, nên dù nam phía
    đòng quốc lộ Một vẫn là đất Liễu Cốc Thượng. Nhà thờ họ
    Nguyễn Văn quay lưng với Liễu Cổc Hạ mà nhìn ra Tháp
    Dôi, nhìn ra bàu như là những người đi tiên phong làm trụ
    mốc giữ đất cho làniỉ.

    26

    I háp Dôi tọa lạc trên gò đất cao như hai “ Mẹ Con"
    dứng bên nhau cùng nhìn ra phía biên cừa Sình. Dó là
    hướng chính đông. N yày xưa đây là một cánh đồng rộng
    làm kho ngũ cốc cho cả làng Liễu nên hai ngôi tháp
    đứng lồng lộng tỉiừa irời mây và sóntỉ lúa càng hoành
    tráng kiêu sa.
    Tháp nhỏ đímg bên trái và cách tháp lớn khoảnu 2 3m, có lẽ như cặp tháp Dôi ờ huyện Tuy Phước tinh Bình
    Dịnh trước khi vào thành phố Qui Nhơn (xưa là Cri Bonei).
    Một đoạn Bàu nàm ngay phía bắc lừ tây sanc đông
    rồi mờ rộim mặt nước ờ hướng đôim nam để nối với sông
    Bồ. Bởi có một đoạn nằm ngang phía bấc tháp nên đã có
    niiười tườnu dó là '1iộ thành h ấ ' chong sự tan công lừ
    hưứnti bẳc. Dung tục hóa một công trình kiến trúc văn hóa
    dền tháp uy nghiêm Ihành pháo đài, lô cốt chi có người
    thời ta nhờ tư duy chiến tranh mới có.
    Tháp Dôi Liễu Cốc đã sụp đổ lừ lâu, chỉ còn một
    phần Ihân tháp lớn đửiig lại làm chứng tích một thời kiêu
    sa kỳ vĩ.
    Ngàn năm, hoặc hơn thế đã qua. những viên gạch vồ
    bị phũ phàng giữa nắng mưa với bao tuế nuuyệt vẫn rắn rỏi
    như cố ui ừ những gì là quá khứ. Có lẽ cả Thừa Thiên - Huế
    hay rộng hơn. cả Bình - Trị - Thiên chi còn Liều Cốc. chì
    còn Tháp ỉ)ôi ở dây đang đứng được một phần thân thể.
    Hình như dó là máng thân phía sau. Chỗ đống gạch nổi cao
    nhất mà ta có thê Ico lên được dường như là lòng tháp. Hai
    góc còn lại làm giới hạn thân sau cho ta một ước đ...
     
    Gửi ý kiến