Sự tích hoa Ngọc Lan - The Legend of Michelia Alba
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lắng nghe yêu thương

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 13h:56' 12-03-2024
Dung lượng: 911.2 KB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 13h:56' 12-03-2024
Dung lượng: 911.2 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
epub©vctvegroup
09-01-2018
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Dành tặng bà Daisy Nathan
với những câu hỏi dài hàng thế kỷ
Hãy trở lại cùng ta, thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi.
Malachi 3:7
MỞ ĐẦU
1.
CÓ LẼ MỌI SỰ KHỞI NGUỒN từ khi bà cho chặt bỏ cái cây
đó đi.
Bà không hề nói gì với cháu cả - những chuyện thế này có
liên quan gì đến trẻ con đâu - vậy nên buổi sáng mùa đông nọ,
lúc cháu đang ngồi trong lớp ngán ngẩm nghe thầy giảng về
tính chất của bội số chung nhỏ nhất, thì lưỡi cưa đã nghiến vào
lớp vỏ cây màu trắng bạc; còn khi cháu đang lết chân trên hành
lang vào giờ ra chơi, thì những mảnh sống của cái cây đã rớt
như mưa xuống bầy kiến nhỏ.
Khung cảnh tàn diệt đổ ập lên cháu lúc từ trường trở về.
Trong sân, nơi cây óc chó từng đứng xõa bóng, giờ chỉ còn là hố
đất đen ngòm; những cành cây bị chặt vứt bỏ ngổn ngang, còn
thân cây bị cưa thành ba đoạn nằm vô hồn dưới đất; và một
người đàn ông mặt mũi đỏ tía phủ kín muội khói dầu diesel
đang điều khiển chiếc máy xúc, với những bộ hàm khổng lồ giật
tung cái gốc cây. Cỗ máy xúc gầm rú, khụt khịt, lùi lại, chồm
lên, hối hả trước những tiếng chửi thề của người điều khiển.
Phần rễ cứng cỏi không muốn nơi lỏng những cánh tay bám
chặt vào lòng đất. Chúng bướng bỉnh và đâm sâu hơn tưởng
tượng.
Năm nối năm, mùa tiếp mùa, những chiếc rễ đã âm thầm lan
tỏa, lấn sâu vào lòng đất từng chút một, bện lẫn với rễ cây sồi,
cây tuyết tùng và cây táo, thậm chí còn cùng nhau quấn chặt lấy
đường ống dẫn nước và khí ga. Đó chính là lý do khiến người ta
chặt bỏ cây cối: chúng luồn lách trong thẳm sâu, làm khó con
người, và con người buộc phải dùng tới máy móc để đối phó với
những kẻ cứng đầu như thế.
Thình lình, dưới ánh nắng mùa đông lạnh lẽo, vồng rễ oai vệ
của cây óc chó, với những chùm đất nhỏ vẫn còn dính chặt lấy
rễ cây, bị nhấc bổng lên trước mắt cháu - như phần mái bị bốc
ra khỏi ngôi nhà - thả lại đoạn rễ cái vẫn còn chôn sâu trong
lòng đất.
Khi đó - và chỉ khi đó - người điều khiển máy xúc mới hả hê
giơ cao nắm tay ra dấu chiến thắng, và bà đã mặc sẵn tạp dề, vỗ
tay hưởng ứng.
Khi đó - và chỉ khi đó - cháu, vốn chưa thể mở miệng hay
nhấc nổi bước chân, có cảm giác sống lưng mình bỗng dưng
phát xạ. Xương sống lẫn tủy sống không còn là của cháu nữa;
chúng là một phần của sợi dây điện trần cũ kĩ, và những tia lửa
điện xẹt tới xẹt lui trong niềm vui giả tạo, với thứ năng lượng
lạnh lùng và dữ tợn. Chúng lan tỏa khắp nơi, như những chiếc
gai băng vô hình, mũi gai sắc nhọn như dao cạo, xiên vào ruột
gan cháu, đâm vào trái tim cháu, rối tung trong trí óc cháu,
nhảy múa lơ lửng trong máu huyết của cháu; những mảnh gỗ
vụn trắng ởn, những khúc xương người chết, không nhảy điệu
nào khác ngoài vũ điệu diệt vong; thứ năng lượng kia không
phải lửa, không phải ánh sáng, mà là thứ năng lượng cho hành
vi độc ác, khôn lường; thứ năng lượng bức bối, bỏng rát.
Và sau tia sét là mảng tối của đêm đen, cái câm lặng bất an từ
quá mức: chứng kiến quá mức, chịu đựng quá mức, hiểu biết
quá mức. Cái câm lặng không phải của giấc ngủ, mà của sự chết
chóc: khi nỗi đau quá lớn, người ta phải chết đi một chút mới có
thể sống tiếp được.
Cây óc chó của cháu - cái cây đã lớn lên cùng cháu, cái cây
cháu từng tin tưởng sẽ đồng hành cùng cháu khi năm tháng
trôi qua, cái cây mà cháu tưởng là mình sẽ nuôi dạy các con
dưới tán lá của nó - giờ đã bị nhổ bật gốc. Cái cây đổ xuống, kéo
theo bao điều bị tàn phá: giấc ngủ của cháu, hạnh phúc của
cháu, vẻ vô lo của cháu. Khi phần rễ cái bị rựt đứt, âm thanh đó
như một vụ nổ; thời gian bị ngắt thành trước đó và sau đó; ánh
sáng cũng khác hẳn, chìm lịm trong bóng tối chập chờn.
Khoảng tối ban ngày, khoảng tối ban đêm, khoảng tối giữa mùa
hè nóng bỏng. Và, từ trong bóng tối đó, có một điều chắc chắn:
nỗi đau chính là đầm lầy mà cháu buộc phải lội qua.
* * *
Những điều nhỏ nhặt nhất lại chính là bí ẩn lớn nhất. Trong
vỏ bọc vô hình, cái thế giới bí mật đó vỡ òa. Một hòn đá, trước
hay sau cũng vẫn chỉ là một hòn đá; bản chất của nó không bao
giờ thay đổi. Nhưng một cái cây, trước khi trở thành cây, nó
vốn là một hạt giống; và con người, trước khi trở thành người,
chỉ là một phôi thai.
Những điều to tát nhất thường nằm mơ hồ trong những cái
gọi là giới hạn, định nghĩa.
Khi hiểu được điều này, bỗng dưng cháu nhận ra rằng những
thứ cần chăm chút lại chính là những gì nhỏ bé.
* * *
Sau cái chết của cây óc chó cao lớn, cháu đã khóc ròng nhiều
ngày. Ban đầu, bà cố gắng an ủi - làm sao mà việc chỉ đốn một
cái cây lại khiến một cô bé đau khổ đến vậy chứ? Bà cũng yêu
cây; lẽ ra bà không nên làm thế để trêu tức cháu. Bà quyết định
chặt bỏ đi vì nó gây phiền toái; nó ở quá gần nhà mình, và cả
cây tuyết tùng cũng thế. Cây cối cần có không gian, bà luôn bảo
cháu như thế, chưa hết, biết đâu ngày nào đó, rễ cây có thể đâm
thẳng vào bồn vệ sinh giống như xúc tu của bạch tuộc, và hẳn
rồi, cháu không muốn cái điều đáng sợ đó xảy ra đâu! Bà đang
cố làm cho cháu cười, hoặc ít nhất là mỉm cười, nhưng chẳng
mấy thành công.
Qua giai đoạn bùng nổ dữ dội, ngày nào cháu cũng nằm bất
động dưới sàn phòng mình, nhìn trân trân cái bầu trời trì độn
bằng xi măng không thể giúp cho tình hình sáng sủa hơn.
Mới trước đó, trong một cuốn sách tranh của mình, cháu đã
đọc câu chuyện về loài hải sâm. Dù là một sinh vật tầm thường
vô hại, vô danh nhưng chúng vẫn quyết liệt bảo vệ mạng sống
của mình như bất kì sinh vật nào khác. Khi bị tấn công, ngay
lập tức, chúng phóng ra toàn bộ mớ bòng bong nội tạng - tim
gan, phèo phổi, những bộ phận nội tạng tái sinh được - để vô
hiệu hóa kẻ thù bằng cái thứ giống như tấm vải của đấu sĩ ấy, và
nhờ đó chúng có đủ thời gian để lủi tới nơi an toàn, náu mình
trong rừng tảo, nghỉ ngơi, để các tế bào của chúng tái hợp và
phân tách cho tới khi tạo ra được một phiên bản nội tạng hoàn
hảo thay thế thứ đã bị trục xuất.
Bà thấy đấy, cháu tự thấy mình rơi vào trạng thái giống như
con hải sâm sau một vụ tấn công: ruột gan trống rỗng. Cháu
không có lời nào để nói cả. Cháu không trả lời những câu hỏi
của bà. Chúng ta sống ở hai thế giới khác nhau; thế giới của bà
đầy lương tri ngự trị, trong khi thế giới của cháu là một vũ trụ
đen đặc và đầy tai ương, chốc chốc lại có sấm sét xoẹt qua. Mối
liên hệ giữa hai thế giới ấy rất rõ ràng: cháu có thể thấy thế giới
của bà, nhưng bà thì không thể hiểu được thế giới của cháu.
Và vì thế, đến ngày thứ ba, khi mà lương tri và lòng kiên
nhẫn của bà đã cạn kiệt, và có lẽ nhờ bác sĩ nhi khoa tư vấn, bà
mở cửa phòng cháu và nói, “Đủ rồi đấy! Cháu làm bà bực mình
lắm rồi. Chỉ là một cái cây thôi mà, lúc nào cháu cũng có thể
trồng một cây khác.” Rồi bà lại mải miết với đủ thứ việc trong
nhà, có lẽ giống như bao buổi sáng cháu đi học.
* * *
Cháu vốn không có tính cãi thẳng lại trước những lời buộc
tội. Không ai phải chịu trách nhiệm về khoảng cách giữa các
hành tinh; đó là do các định luật hấp dẫn. Tầm hiểu biết của
mỗi người cũng khác nhau. Bà cũng biết điều đó: bà từng hay
đọc cho cháu nghe truyện Hoàng Tử Bé, nên chắc bà biết mỗi
tiểu hành tinh đều có những cư dân của riêng nó. Cháu thấy hơi
bất ngờ vì bà đã không nhớ về chuyện cây bao báp, vì cây óc chó
này có khác gì cây bao báp ấy đâu. Bụi hồng bà cứ muốn mua
tặng cháu ấy, về sau cũng chẳng thế thay thế nó được.
Bụi hồng rất lung linh và tỏa hương thơm mát dịu, nhưng
bông hồng rồi sẽ bị cắt đi, cắm vào lọ hoa và cuối cùng sẽ nằm
gọn trong thùng rác. Nhưng một cái cây mà ta yêu quý cắm rễ
ăn sâu vào trái tim ta. Khi cây chết đi, rễ bị khô héo, quắt queo,
để lại những vết sẹo nhỏ nhưng hằn sâu, không thể lãng quên.
* * *
Người hay đổ lỗi về thất bại của mình trong cuộc sống cho
người khác - hay cho một sự cố nào đó - chẳng khác gì một con
chó bị buộc vào dây xích dài, cứ trượt theo sợi dây đó. Chẳng
mấy chốc, đám cỏ dưới chân con chó sẽ chết dần, và chỗ đất bị
giày xéo sẽ bê bết thức ăn vương vãi và những bãi phân chó.
Khi kiệt sức vì những bước cào liên hồi vô định đó, con chó rồi
sẽ chết và sợi dây xích còn lại lơ lửng, han gỉ; tất cả những gì
còn lại của một cuộc đời bất hạnh đó chỉ là những dấu vết buồn
trên nền đất.
Biến cố và con người không phải là những bì dằn, cũng
không phải là những ngõ hẻm mà ta không biết lối ra; chúng
giống những chiếc gương hơn: nhỏ, to, lồi, lõm, mấp mô, biến
dạng, nứt hoặc mờ, nhưng vẫn cho hình ảnh phản chiếu và cho
chúng ta biết một phần ẩn khuất trong chính chúng ta.
* * *
Hẳn là cháu đã thức tỉnh khỏi cuộc đời của một con hải sâm
vào đêm thứ tư hoặc thứ năm gì đó. Căn phòng của cháu ngập
tràn ánh trăng tròn lạnh lẽo. Cây móc treo quần áo phủ cái
bóng rùng rợn của nó xuống sàn. Tại sao phải để lại bóng trong
đêm tối? Để làm gì, nếu không phải để chứng minh cho sự tồn
tại của những thứ không thể cầm nắm được?
Hồi cháu còn bé, suốt cả buổi tối, bà thường ngồi bên giường
và kể chuyện cho cháu nghe. Trong mớ hỗn độn, nào công
chúa, bùa phép, những con vật khổng lồ và những chiến công
lẫy lừng, chỉ có hai hình ảnh vẫn khắc sâu trong tâm trí cháu:
đôi mắt vàng khè của con sói và những bước chân thình thịch,
vụng về của Quái vật Golem. Lũ sói rình rập trong rừng và dọc
những con đường hoang vắng, còn Quái vật Golem có thể đi tới
bất kỳ đâu; nó biết mở cửa, đóng cửa và leo lên cầu thang. Nó
không ăn thịt trẻ con hay biến chúng thành quái vật, vậy mà
cháu vẫn sợ nó hơn bất kì loài nào khác. Mỗi khi nhắc đến tên
nó, không khí quanh cháu như đóng băng lại.
Vào một đêm đầu thu, ẩm ướt nhưng không lạnh, cháu cảm
thấy choáng ngợp trước những cái bóng đáng sợ nên trở dậy và
ra ngoài.
Không gian thoang thoảng chút hương thơm gợi nhớ về mùa
hè rực rỡ. Đó có lẽ là mùi của vài quả táo còn sót lại trên cành,
số khác rụng đầy mặt đất, thối rữa, hoặc có lẽ là hương của
những trái mận vàng vừa chín tới. Vì nhiệt độ vẫn chưa xuống
dưới mức đóng băng, nên chỉ có vài chiếc lá rụng. Cỏ vẫn xanh,
lác đác đây đó là những cây hoa anh thảo dại và hai cây bồ công
anh còn sót lại sau đợt bà dọn sạch cỏ.
Tới lúc đó, cháu chợt nhận ra lòng mình thật trống trải.
Cháu tới chỗ cây óc chó từng đứng và khụy gối. Mặt đất ẩm ướt,
phủ đầy những nhánh cây gãy vụn, vương vãi khi cái cây ngã ập
xuống.
Không gian quanh đây, khi còn có cây óc chó, từng ngân lên
rất nhiều giai điệu; trong chốc lát, cháu thấy nó vẫn còn đây, rễ
nó vẫn đang hút lấy dưỡng chất bơm vào thân, những chạc cây
như những ngón tay đen ngòm vẫn đang truyền nhựa sống.
Mới đấy, quả hạch rơi đầy từ thân cây lừng lững, ăn sâu vào
lòng đất và nhú mầm, vươn lên bầu trời. Bản giao hưởng ngẫu
hứng của đám quả rụng đã đồng hành với tuổi thơ cháu những
khi mùa thu tới. Ngày ấy, mỗi khi đi học về, cháu lại chạy ra
đây, nhét đầy túi những quả óc chó.
“Đừng có nhặt, bẩn đấy.” Tiếng bà vọng ra từ cửa sổ bếp.
Nhưng kệ, cháu cứ lờ đi và tỉ mẩn bóc quả óc chó thật nhẹ
nhàng để chúng không vỡ. Cháu không ăn, mà để chúng trong
lòng bàn tay và nhìn ngắm. Không hiểu sao, cháu thấy chúng
giống hệt mấy bộ não trong sách giáo khoa - não của các động
vật có vú và các loài chim - với hộp sọ, như một cái vỏ bọc, bảo
vệ các bộ phận mong manh hơn, màng cứng, màng mềm, và,
vùng kiểm soát trí nhớ giữa hai bán cầu não.
Sao hai thứ trong tự nhiên lại giống nhau đến thế? Sao thứ
này lại liên hệ với thứ kia? Đó là quy luật vũ trụ, hay chỉ là sự
phóng đại của một phút thất thần?
Xung quanh nơi đây phủ đầy quả óc chó. Những cơn mưa rào
đã biến thảm cỏ xanh mướt của tháng Sáu thành lớp bùn nhão;
chỉ cần chọc nhẹ ngón tay, hạt cây sẽ lộ ra. Cứng đấy, nhưng
vẫn không thoát nổi móng vuốt và hàm răng nhọn hoắt chìa ra
của lũ sóc, hay những chiếc mỏ của bọn quạ mào, lũ chim ác là
và chim giẻ cùi; cứng, nhưng chưa đủ để có thể khiến cháu
ngừng thắc mắc.
Vì cái cây óc chó kia - nay sống mai chết - chính là tấm gương
đầu tiên phản chiếu cuộc đời cháu. Cháu khuỵ xuống vùng đất
tổn thương, nhìn vào vết sẹo hằn trên mặt đất, đằm mình trong
ánh trăng quái gở, tay vẫn cầm một hạt cây mà thấy lòng mình
trống rỗng. Khi quả tuyết tùng rơi đánh cộc khô khốc dưới
chân, cháu hiểu mình không thể vượt qua con đường phía
trước, con đường cô độc của một kẻ hay hoài nghi.
2.
MỖI KHI NHỚ VỀ NGÔI NHÀ CỦA CHÚNG TA, cháu lại thấy
nó lơ lửng trong ánh bình minh. Trời vẫn đang thu, vì mặt đất
bắt đầu bốc hơi sương mờ ảo dưới hơi ấm của những tia nắng
đầu tiên. Giống như một con chim đang bay lượn, cháu luôn
nhìn xuống ngôi nhà từ trên cao và rất xa; rồi từ từ tiến lại gần,
quan sát cửa sổ - bao nhiêu cửa đang mở, bao nhiêu cửa đang
đóng - và tới thám thính khu vườn, giàn dây phơi, những gỉ sắt
trên cánh cửa. Cháu không xuống vội - cứ như cháu muốn chắc
chắn rằng đó thực sự là nhà của mình, là câu chuyện của mình.
Dường như lũ chim di trú cũng giống như thế; chúng phải
bay qua hàng ngàn cây số, không màng tới ngoại cảnh, và rồi,
khi tới nơi chúng được sinh ra từ năm trước, chúng bắt đầu tìm
hiểu. Cái cây dẻ ngựa nở hoa trắng có còn đó không? Và cả chiếc
xe hơi màu xanh? Cả người phụ nữ tốt bụng luôn bước ra, giũ
những mẩu bánh mì còn vương trên khăn trải bàn nữa? Chúng
quan sát mọi thứ thật tỉ mỉ, vì suốt bao tháng ròng, ở những sa
mạc châu Phi, những hình ảnh về người phụ nữ và chiếc xe đó
đã ăn sâu trong tâm trí chúng. Nhưng có nhiều những phụ nữ
tốt bụng và những chiếc xe màu xanh trên thế giới, vậy làm sao
để xác định được cho đúng?
Không phải là bằng quan sát, mà bằng mùi hương, sự kết hợp
giữa các mùi hương vương vất trong không gian quanh tổ của
chúng; nếu có mùi hương của cây tử đinh hương và cây đoan
trộn lẫn vào nhau, thì đúng là nó, chính là ngôi nhà đó, và ta đã
tìm về đúng chỗ.
* * *
Còn mùi hương ùa tới khi cháu từ Mỹ trở về là mùi khét lẹt
của lá cây ẩm ướt không cháy nổi; lúc đó là tầm nửa buổi sáng,
nhà hàng xóm vừa mới chất một đống lá và đang hoài công
châm lửa đốt, khiến không khí xung quanh đặc sánh khói trắng
mù mịt.
Và rồi bà bước ra từ trong làn khói, có lẽ gầy hơn so với kí ức
của cháu.
Cứ ngỡ rằng cháu có thể tự giải thoát khỏi bà nếu có cả một
đại dương ngăn cách, cháu đã đi nhiều tháng, chứng kiến nhiều
điều, và gặp gỡ nhiều người, nhưng tất cả những khoảng cách
đó chỉ mang đến một kết quả hoàn toàn ngược lại.
Cháu vẫn ghét bà nhiều như xưa. Cháu thấy mình như một
con cáo đuôi dài bự xự vô tình xùa đuôi vào đám lửa, và lửa cứ
lẵng nhẵng bám theo cháu khắp nơi; dù tới đâu, lòng cháu vẫn
tràn đầy tức tối, đau đớn, và khao khát dập tắt ngọn lửa đang
bùng cháy phía sau, ngày một dữ dội và hủy hoại mạnh hơn.
Khi cháu tra chìa khóa vào cổng, cái đuôi lại phừng lên, kêu
tanh tách và tóe lửa như một bó cỏ khô, đám cháy xém lẹm
càng tăng cường bởi những ngọn lửa hung hãn.
Bà đang ở ngõ vào nhà, tay cầm chổi. Bà reo lên “Cháu đây
rồi!” và ném chổi xuống đất. Cán chổi gỗ đập vào nền đá lát
phát tiếng kêu khô khốc, sắc lẹm.
“Hẳn rồi,” cháu đáp lại, và không nói thêm một lời nào nữa,
cháu đi về phòng mình, con Buck lẽo đẽo theo sau, kêu ăng ẳng
hân hoan.
Những tuần sau đó, sự giằng co khó chịu vốn dĩ giữa bà cháu
ta lại tái diễn - cháu ghét bà, còn bà cố để cháu không ghét. Vào
những ngày bà khỏe mạnh, bà thường cố xoa dịu nó, nhưng
những việc bà làm thật yếu ớt, như một võ sĩ hết thời, và chúng
chỉ càng làm cháu thêm bực bội. “Bà muốn gì?” cháu hét lên.
“Bà đi đi!” Cháu gọi bà là “Bà lão”; cháu đá cửa, mồm lẩm bẩm
như tụng kinh, “Đừng quấy rầy cháu nữa, đừng quấy rầy cháu
nữa, đừng quấy rầy cháu nữa...”
* * *
Thật khó mà hiểu được sự căm hờn đó đã chất chứa trong
lòng cháu ra sao. Nó là kết quả của một chuỗi sự kiện, không
may lại kết hợp với bản tính bẩm sinh.
Khi những giây phút đầu tiên của tuổi trưởng thành đến, cái
dòng chảy bình yên trong tuổi thơ của cháu bắt đầu biến thành
một dòng sông vần vũ; làn nước không còn xanh nữa mà biến
thành vàng úa, và gầm rú khi dội qua mỗi vật cản. Mọi loại rác
thải bị cuốn đi trong con lạch đó - những chiếc hộp nhựa, túi
bóng, những quả banh da bị thủng, những thân hình búp bê trơ
trụi, những cành cây gãy nát, những xác mèo bụng trương
phềnh - và mọi thứ trôi bồng bềnh, thứ này mắc nhẹ vào thứ
kia, bất lực, uất ức, không thể tự giải thoát. Từ thuở nhỏ, đã có
quá nhiều điều tích tụ dưới lớp vỏ mà cả cháu và bà đều không
thể nhìn ra: nhiều năm trôi qua, dù nói ra hay chôn giấu, một
cái nhìn trừng trợn, một cái ôm âu yếm bị chối từ - những hiểu
lầm vốn là tất yếu trong bất kì mối quan hệ song phương nào đã biến thành hai kho thuốc nổ, nằm trong mỗi chúng ta.
Hai từ “chúng ta” đó, nhưng thực tình chỉ nên nói là “cháu”
thôi vì bà vẫn luôn nỗ lực hết sức mình để tránh mọi cuộc bùng
nổ.
Bà luôn im lặng nếu bà cho cách đó là tốt, bà cố nói thật
nhiều nếu bà nghĩ lời nói sẽ hiệu quả hơn, nhưng dù là lặng
thinh hay bày tỏ bằng lời thì cũng đều vô ích. “Sao bà không nói
gì cả?” cháu sẽ hét lên, giận dữ nếu thấy bà tỏ ra bàng quan.
“Sao bà không im đi?” cháu sẽ gầm gừ, khăng khăng những gì
bà nói chỉ làm cháu thêm ức chế.
* * *
Cháu thường xuyên rơi vào trạng thái khủng hoảng. Điện
ngập trong não cháu; những con mối hung hãn chạy loạn xạ
trong sọ cháu. Chúng làm tắt ngóm mọi ánh đèn, những bộ
hàm nhỏ xíu nhai nát dây điện, và mọi thứ chìm vào màn đêm.
Trong bóng tối đó, cuối cùng cháu cũng bình tâm trở lại. Bỗng
chốc dòng sông trong cháu biến mất, chỉ còn lại hồ nước, một
hồ nước nhỏ trên núi. Một con cá hồi béo mầm lượn lờ dưới
lòng hồ sâu, và ánh bình minh nhuốm hồng đỉnh núi.
Vâng, mọi thứ thực sự đều có thể bắt đầu lại, giống như đêm
tàn trời lại sáng. Cánh cửa sổ mở ra, không khí trong lành ùa
vào ngôi nhà; ánh sáng hòa với dòng khí mát rượi, và dường
như không còn góc tối nào ngự trị.
Chúng ta cùng nhau nướng bánh, cùng nhau đi mua sắm,
hoặc cùng tới thư viện để chọn vài đầu sách mới.
“Cháu cố uống thuốc nhé?” bà nói, và trong vòng hai, ba
tuần, cháu đã vâng lời bà.
Những tuần bình yên.
Thật đẹp làm sao, trong những tuần đó, vì được hít thở, tản
bộ, nhìn ngắm xung quanh mà bên tai cháu không còn văng
vẳng những tiếng ì xèo; thật thoải mái làm sao khi được ngủ và
thức dậy mà không canh cánh mối lo sợ òa vỡ.
Nhưng cũng như mọi điều tốt đẹp trên đời, nó chẳng bao giờ
tồn tại mãi.
Một buổi sáng, cháu mở mắt, và bỗng thấy cái bình yên tẻ
nhạt đó sao nặng trĩu.
Cháu cần nỗi đau để thấy mình đang sống. Cháu biết nó là
thứ a-xít, thuốc độc... bằng trực giác, cháu hiểu nó sẽ hủy hoại
ruột gan cháu và bất kỳ thứ gì chạm vào cháu; nhưng cháu
không thể từ bỏ nó. Lòng tốt và lẽ phải không có nhiều năng
lượng bằng. Chúng chỉ là những cảm xúc yếu ớt, nhạt nhòa vô
định.
Từ bình minh tới hoàng hôn, cháu đi lại bồn chồn chẳng
khác nào cái lõi núi lửa chuyển dịch. Tâm cháu lúc này giống
như lòng núi lửa tan chảy nóng bỏng, không lối thoát khí qua
những kẽ ngóc ngách, lỗ thông hơi hay rãnh thoát vô hình; thứ
đá mác-ma đỏ rực sôi sục vần vũ, dồi lên, rụt xuống nhịp nhàng
đều đặn và thi thoảng lại ồ ạt tràn ra.
Hồi mười một, mười hai tuổi gì đó, cháu vẫn còn ngồi trong
lòng bà trên ghế sô-pha đọc sách, nhưng chớm sang tuổi mười
ba, cháu bắt đầu mất kiên nhẫn, rồi mười bốn tuổi, câu chuyện
duy nhất cháu thực sự hào hứng là tìm hiểu về chính mình.
Vào một trong những buổi chiều như thế, khi chúng ta đang
cùng đọc sách - một trong những cuốn Nghìn lẻ một đêm mà bà
yêu thích - tháng Tư, cơn mưa lạnh giá xối xuống vườn và một
con người khác bỗng trỗi dậy trong cháu. Thình lình, cháu bật
dậy và chê bai, “Cháu hết chịu nổi quyển sách tẻ nhạt này rồi!”
Ngỡ ngàng, bà đặt cuốn sách xuống và nói, “Cháu ăn nói thế
à?”
“Cháu nói thế nào mặc cháu.” Cháu phản ứng rồi quay đi và
bước một mạch ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa phía sau
lưng.
* * *
Trong suốt tuổi thơ của cháu, khi bạn bè đồng trang lứa chúi
đầu vào các chương trình truyền hình, thì bà phủ lên cuộc đời
cháu những câu chuyện kể, những bài thơ, truyện thần thoại.
Bà yêu thích sách, và muốn truyền niềm đam mê đó sang cháu hoặc có lẽ vì bà nghĩ nếu được nuôi dưỡng trong những điều
lung linh đẹp đẽ người ta sẽ không còn phải sống trong sợ hãi
đề phòng.
Trong kí ức đầu tiên của cháu về cuộc sống của chúng ta,
sách luôn hiện hữu. Đó là cách bà xây dựng những mối quan hệ;
đó là thế giới của bà, thế giới mà bà trưởng thành. Những cuốn
sách giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc sống, như bà thường nói;
nhờ văn học, chúng ta có thể hiểu sâu sắc về cảm xúc của con
người.
Nhưng dù có vô vàn các nhân vật bất tử vây quanh, mỗi
ngày, cháu lại trăn trở nhiều hơn, chứ không trở nên hiểu biết
hơn. Tất cả bọn họ cứ ở giữa bà và cháu, một số thì ngồi, số
khác lại đứng; những khuôn mặt của họ lố nhố giữa chúng ta,
và cơ thể họ phủ bóng mờ ảo lên câu chuyện của chúng ta,
trong khi cháu muốn thấy ánh sáng, một thứ ánh sáng chân
thật và minh bạch.
Cháu chỉ thấy những khuôn mặt mà cháu thực sự muốn
thấy: khuôn mặt của cha mẹ mình.
* * *
Vâng, cái khoảnh khắc bối rối vô cùng đó ngẫu nhiên trùng
khít với sự tái hiện của mẹ. Trước đó, mẹ chỉ kín đáo xuất hiện
ở sân chơi. Chỉ có hai chúng ta, bà và cháu - hoặc cháu tưởng là
chúng ta - tự hài lòng trong mối quan hệ đó: không bất đồng,
không câu hỏi vô tư, và ngày tháng cứ trôi qua như chuyến tàu
mò mẫm trong sương mù dày đặc. Mọi thứ mù mờ, bao bọc và
không nơi bấu víu; chỉ có đường ray thô cứng đảm bảo cho sự
bình an của chúng ta.
Thế rồi, một buổi sáng tháng Năm, cháu tỉnh giấc và lần đầu
tiên nhận ra rằng trong cả ngôi nhà này không hề có một bức
ảnh nào của mẹ: phòng khách không, nhà bếp không, phòng bà
cũng không một dấu tích nào của mẹ, và bà cũng không biết là
cần phải treo ảnh mẹ trong phòng cháu. Dù cố hình dung ra
hình bóng mẹ thì trong cháu chỉ là những kí ức xa vời, mà ngày
đó cháu còn quá nhỏ, và đã nhiều năm trôi qua, những đặc
điểm của mẹ bắt đầu nhạt nhòa giống như nét vẽ phai dần dưới
ánh nắng. Chúng nhòe lẫn với khuôn mặt của người khác,
những mẩu chuyện khác.
Mẹ của cháu là ai?
Cháu chỉ biết hai điều về mẹ: mẹ mất sau một tai nạn xe hơi,
và mẹ học đại học ở Padua nhưng chưa kịp tốt nghiệp.
Buổi sáng đó, cháu lao vào bếp. Bà đã hâm nóng sữa, và đang
tắt lò.
“Chúng ta không có bức ảnh nào của bà ấy!” Cháu gào lên.
“Ảnh ai cơ?”
Trong tim cháu có âm thanh như tiếng băng nứt vỡ dưới
chân. Cổ họng cháu run lên trước khi khó nhọc thốt thành lời,
“Ảnh mẹ.”
Hai ngày sau, một khung ảnh nhỏ xuất hiện trên bàn ngủ của
cháu, với tấm hình đen trắng chụp một bé gái mặc bộ váy nhỏ
tự may xinh xắn đang ngồi trên chiếc bập bênh, vẫn là chiếc
bập bênh tay vịn màu đỏ ngoài sân kia. Cháu cầm tấm ảnh lên
và đi ra vườn tìm bà.
“Cháu không muốn ảnh con gái bà,” cháu nói. “Cháu muốn
ảnh mẹ cháu.”
Trước khi xé tan tấm ảnh, cháu đã kịp đọc dòng chữ phía
sau: Ilaria, 11 tuổi.
Thế rồi, một tấm ảnh in liền với màu sắc lòe nhòe xuất hiện
trong phòng cháu, chụp một phụ nữ trẻ tay chống cằm, dáng vẻ
đang lắng nghe ai đó trong một hộp đêm mù mịt khói thuốc.
3.
BÂY GIỜ THÌ CHÁU HIỂU RẰNG có thể những sự việc đó
mang sắc thái ý nghĩa khác nhau; những gì chúng ta nhìn thấy
bằng mắt thường luôn phiến diện. Có lẽ bà nghĩ ký ức về mẹ sẽ
làm cho cháu buồn, hoặc có thể vì bà vẫn còn quá đau khổ thấm thoát đã mười năm - và bà vẫn không cầm lòng được khi
thấy hình ảnh mẹ trong nhà. Có lẽ bà muốn âm thầm lưu giữ
ánh mắt và khuôn mặt mẹ trong tim. Ở đó bà lập bàn thờ mẹ; ở
đó, trong bóng tối và câm lặng, bà tưởng nhớ cái nỗi đau tột
cùng khi mất mẹ.
Nhưng ngày đó, với cơn thịnh nộ của một thiếu niên theo
Mani giáo, cháu chỉ thấy một phần của sự thật: xóa bỏ. Bà mất
con gái, và bà không buồn tưởng nhớ cô ta; còn gì khác có thể
chứng tỏ một trái tim vô cảm hơn nữa? Và hơn thế, người con
gái đó lại là mẹ cháu, đã chết yểu sau một cuộc đời mập mờ sáng
tối.
Quả thực bà đã không kể gì về mẹ với cháu cả. Tất nhiên
cháu đã có thể hỏi bà, và sau chút ngập ngừng, hẳn bà có thể
cho cháu biết về mẹ, và khi sống lại những khoảnh khắc đó,
băng giá trong trái tim bà sẽ tan chảy, cháu đã có thể đặt tên
cho những ký ức của mình, và bà đã có thể rũ bỏ gánh nặng đè
nén bao lâu nay; và cuối cùng chúng ta sẽ ôm nhau thật lâu, hai
khuôn mặt nhạt nhòa nước mắt, còn mặt trời thì lặn phía sau
lưng, mọi thứ xung quanh chúng ta sẽ chìm vào bóng tối.
Cháu đã có thể làm thế, nhưng cháu lại không làm. Đó là
khoảnh khắc giằng co mâu thuẫn, và vì thế giữa chúng ta toàn
là mâu thuẫn, ở mức đáng kể: tường đấu tường, thép đấu thép.
Ai cứng đầu hơn, trái tim sắt đá hơn sẽ là người tồn tại tới cùng.
Vì quá ám ảnh đổ lỗi cho bà, cháu luôn tin rằng bà hành động
như một loài vật nào đó đôi lúc đánh cắp con của loài khác và
nuôi chúng làm con mình. Bà muốn giữ tuổi thanh xuân, hoặc
có lẽ vì bà thèm có một cô con gái, do vậy bà đã đang tâm cướp
đi con gái của con mình, niềm hạnh phúc duy nhất của cô ấy.
Chung quy, cháu chỉ cảm thấy vì lý do gì đó mong muốn của bà
đã làm xáo trộn cuộc đời của mẹ, cả cuộc sống và cái chết của
mẹ, vì ngay cả có thể - cháu vẫn thấy rằng - hẳn là bà mang một
thứ trách nhiệm bí mật nào đó.
* * *
Thỉnh thoảng cháu nghĩ sẽ tuyệt vời biết mấy nếu lúc nào đó
trong tuổi thơ của mình có ai đó khua đũa thần và chỉ cho
chúng ta biết đường đi những ngày sắp tới trong cuộc đời chúng
ta. Chúng ta sẽ ngồi trên ghế, nghiêng đầu ra sau, và nghe một
ông lão râu tóc bạc phơ, giải thích về lộ trình đáng tin cậy nhất
để tới được trung tâm của lãnh địa bí ẩn đó.
Tại sao không ai cho chúng ta chút manh mối nào về thời
điểm ta cần chú ý? Chỗ này băng mỏng hơn, chỗ kia dày hơn,
hãy đi thẳng, rẽ, lùi lại, dừng lại và né tránh. Sao chúng ta luôn
phải kéo theo phía sau lưng sức nặng của những hành động
chưa được thực hiện và những lời chưa được nói ra? Tại sao
chúng ta sống, ngay từ khi sinh ra, đã bị bó buộc trong sự tù
đày kỳ quặc này? Mọi thứ với chúng ta dường như đều là vĩnh
cửu, và ý chí của chúng ta ngoan cố ngự trị thứ nhỏ bé rối rắm
được gọi là “tôi”, thứ mà ta phải tôn kính giống như một đấng
tối cao tôn kính. Giá ta chỉ cần mở mắt ra một giây thôi, ta sẽ
thấy kẻ trị vì ta đang nói tới đó thực ra là một ông vua con nhu
nhược, giả tạo, thiếu bản lĩnh và bị bó buộc trong tầm nhìn hạn
hẹp.
* * *
Đã bao nhiêu tháng trôi đi kể từ khi cháu trở về?
Ba, có lẽ là bốn tháng. Trong những tháng ngày đó, cháu đã
không biết chuyện gì đang xảy ra; cháu không để ý thấy đôi lúc
bước chân của bà lơ đễnh hoặc ánh mắt bà thoáng chút mơ
màng.
Một sáng, cháu nhận được dấu hiệu đầu tiên khi cơn gió bora
thốc tới. Cháu đi mua bánh mì và sữa trước khi mặt đất đóng
băng lại, và khi trở về, bà đón cháu bằng một nụ cười rất đỗi
ngạc nhiên, và vỗ tay háo hức: “Ta có tin cho cháu đây; có
người ngoài hành tinh ở trong bếp nhà ta đấy!”
“Bà nói gì thế ạ?”
Cháu không biết nên cười hay nên nổi cáu.
“Cháu không tin à? Lại xem đi. Ta không đùa đâu.”
Chúng ta vào trong bếp và lục tung mọi thứ lên để tìm kiếm.
Bà mở các ngăn kéo, lò nướng và tủ lạnh, càng lúc càng thêm lo
lắng. “Nhưng vừa mới đây mà,” bà cứ lải nhải. “Bà chắc chắn
chúng vừa ở đây. Giờ cháu nghĩ là ta lừa cháu đúng không?”
Cháu nhìn bà bối rối. “Đây là một trò chơi ạ?”
Bà có vẻ tự ái. “Có tới bảy, tám tên,” bà nói. “Lúc bà vừa bật
bếp, chúng xuất hiện trong ngăn lò. Khi bà tắt bếp, chúng nhảy
vào bồn rửa.”
“Và chúng làm gì ạ?”
“Nhảy múa. Ta không nghe thấy tiếng nhạc nào, nhưng chắc
chắn chúng đã nhảy múa.”
“Có lẽ chúng trốn qua ống nước rồi.”
“Ống nước? Đúng rồi, có lẽ thế. Có lẽ chúng đến rồi đi qua
vòi nước này.”
Từ hôm đó, người ngoài hành tinh bắt đầu tồn tại trong ngôi
nhà cùng hai bà cháu. Cháu giải thích nhưng cũng vô ích, rằng
người ngoài hành tinh đến từ những chiếc đĩa bay không xác
định UFO, rằng chỉ những người uống quá nhiều hoặc các nhà
khoa học ở Cơ quan Hàng không Vũ trụ NASA mới nhìn thấy
chúng, rằng không thể nào có chuyện họ nhảy múa trong gian
bếp nhà ai đó; nếu họ đáp xuống vườn nhà mình, cháu nói, thì
hẳn hàng xóm xung quanh đã nhìn thấy, và cây cối cũng sẽ bị
cháy rụi.
Bà lắng nghe cháu nói, nhưng nhìn vào ánh mắt bà cháu hiểu
bà vẫn chưa chịu từ bỏ.
Một hôm, cháu bảo, “Chắc không phải người ngoài hành
tinh đâu, cháu thấy giống vong hồn hơn.” Bà nhún vai nôn
nóng trước gợi ý này, như muốn nói, “Tùy cháu thích gọi là gì
thì gọi.”
Theo lời bà mô tả, chúng có màu xanh nhạt - như hạt đậu Hà
Lan tươi - và chúng cũng tròn như hạt đậu; nhưng tay chân
chúng giống chi của con tắc kè đứng thẳng. Đuôi ngắn, trọc lốc,
thay vì mũi và mồm, chúng có một cái kèn lớn, vừa dùng để
nói, ăn và để thở. Chúng thoắt ẩn thoắt hiện; chúng chui vào
ống khói, bơi trong bồn tắm, và vẫy bàn tay nhớp nháp nhỏ xíu
về phía chúng ta qua lớp kính của máy giặt. Đôi khi bà còn thấy
chúng bay lượn, lẩ...
09-01-2018
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Dành tặng bà Daisy Nathan
với những câu hỏi dài hàng thế kỷ
Hãy trở lại cùng ta, thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi.
Malachi 3:7
MỞ ĐẦU
1.
CÓ LẼ MỌI SỰ KHỞI NGUỒN từ khi bà cho chặt bỏ cái cây
đó đi.
Bà không hề nói gì với cháu cả - những chuyện thế này có
liên quan gì đến trẻ con đâu - vậy nên buổi sáng mùa đông nọ,
lúc cháu đang ngồi trong lớp ngán ngẩm nghe thầy giảng về
tính chất của bội số chung nhỏ nhất, thì lưỡi cưa đã nghiến vào
lớp vỏ cây màu trắng bạc; còn khi cháu đang lết chân trên hành
lang vào giờ ra chơi, thì những mảnh sống của cái cây đã rớt
như mưa xuống bầy kiến nhỏ.
Khung cảnh tàn diệt đổ ập lên cháu lúc từ trường trở về.
Trong sân, nơi cây óc chó từng đứng xõa bóng, giờ chỉ còn là hố
đất đen ngòm; những cành cây bị chặt vứt bỏ ngổn ngang, còn
thân cây bị cưa thành ba đoạn nằm vô hồn dưới đất; và một
người đàn ông mặt mũi đỏ tía phủ kín muội khói dầu diesel
đang điều khiển chiếc máy xúc, với những bộ hàm khổng lồ giật
tung cái gốc cây. Cỗ máy xúc gầm rú, khụt khịt, lùi lại, chồm
lên, hối hả trước những tiếng chửi thề của người điều khiển.
Phần rễ cứng cỏi không muốn nơi lỏng những cánh tay bám
chặt vào lòng đất. Chúng bướng bỉnh và đâm sâu hơn tưởng
tượng.
Năm nối năm, mùa tiếp mùa, những chiếc rễ đã âm thầm lan
tỏa, lấn sâu vào lòng đất từng chút một, bện lẫn với rễ cây sồi,
cây tuyết tùng và cây táo, thậm chí còn cùng nhau quấn chặt lấy
đường ống dẫn nước và khí ga. Đó chính là lý do khiến người ta
chặt bỏ cây cối: chúng luồn lách trong thẳm sâu, làm khó con
người, và con người buộc phải dùng tới máy móc để đối phó với
những kẻ cứng đầu như thế.
Thình lình, dưới ánh nắng mùa đông lạnh lẽo, vồng rễ oai vệ
của cây óc chó, với những chùm đất nhỏ vẫn còn dính chặt lấy
rễ cây, bị nhấc bổng lên trước mắt cháu - như phần mái bị bốc
ra khỏi ngôi nhà - thả lại đoạn rễ cái vẫn còn chôn sâu trong
lòng đất.
Khi đó - và chỉ khi đó - người điều khiển máy xúc mới hả hê
giơ cao nắm tay ra dấu chiến thắng, và bà đã mặc sẵn tạp dề, vỗ
tay hưởng ứng.
Khi đó - và chỉ khi đó - cháu, vốn chưa thể mở miệng hay
nhấc nổi bước chân, có cảm giác sống lưng mình bỗng dưng
phát xạ. Xương sống lẫn tủy sống không còn là của cháu nữa;
chúng là một phần của sợi dây điện trần cũ kĩ, và những tia lửa
điện xẹt tới xẹt lui trong niềm vui giả tạo, với thứ năng lượng
lạnh lùng và dữ tợn. Chúng lan tỏa khắp nơi, như những chiếc
gai băng vô hình, mũi gai sắc nhọn như dao cạo, xiên vào ruột
gan cháu, đâm vào trái tim cháu, rối tung trong trí óc cháu,
nhảy múa lơ lửng trong máu huyết của cháu; những mảnh gỗ
vụn trắng ởn, những khúc xương người chết, không nhảy điệu
nào khác ngoài vũ điệu diệt vong; thứ năng lượng kia không
phải lửa, không phải ánh sáng, mà là thứ năng lượng cho hành
vi độc ác, khôn lường; thứ năng lượng bức bối, bỏng rát.
Và sau tia sét là mảng tối của đêm đen, cái câm lặng bất an từ
quá mức: chứng kiến quá mức, chịu đựng quá mức, hiểu biết
quá mức. Cái câm lặng không phải của giấc ngủ, mà của sự chết
chóc: khi nỗi đau quá lớn, người ta phải chết đi một chút mới có
thể sống tiếp được.
Cây óc chó của cháu - cái cây đã lớn lên cùng cháu, cái cây
cháu từng tin tưởng sẽ đồng hành cùng cháu khi năm tháng
trôi qua, cái cây mà cháu tưởng là mình sẽ nuôi dạy các con
dưới tán lá của nó - giờ đã bị nhổ bật gốc. Cái cây đổ xuống, kéo
theo bao điều bị tàn phá: giấc ngủ của cháu, hạnh phúc của
cháu, vẻ vô lo của cháu. Khi phần rễ cái bị rựt đứt, âm thanh đó
như một vụ nổ; thời gian bị ngắt thành trước đó và sau đó; ánh
sáng cũng khác hẳn, chìm lịm trong bóng tối chập chờn.
Khoảng tối ban ngày, khoảng tối ban đêm, khoảng tối giữa mùa
hè nóng bỏng. Và, từ trong bóng tối đó, có một điều chắc chắn:
nỗi đau chính là đầm lầy mà cháu buộc phải lội qua.
* * *
Những điều nhỏ nhặt nhất lại chính là bí ẩn lớn nhất. Trong
vỏ bọc vô hình, cái thế giới bí mật đó vỡ òa. Một hòn đá, trước
hay sau cũng vẫn chỉ là một hòn đá; bản chất của nó không bao
giờ thay đổi. Nhưng một cái cây, trước khi trở thành cây, nó
vốn là một hạt giống; và con người, trước khi trở thành người,
chỉ là một phôi thai.
Những điều to tát nhất thường nằm mơ hồ trong những cái
gọi là giới hạn, định nghĩa.
Khi hiểu được điều này, bỗng dưng cháu nhận ra rằng những
thứ cần chăm chút lại chính là những gì nhỏ bé.
* * *
Sau cái chết của cây óc chó cao lớn, cháu đã khóc ròng nhiều
ngày. Ban đầu, bà cố gắng an ủi - làm sao mà việc chỉ đốn một
cái cây lại khiến một cô bé đau khổ đến vậy chứ? Bà cũng yêu
cây; lẽ ra bà không nên làm thế để trêu tức cháu. Bà quyết định
chặt bỏ đi vì nó gây phiền toái; nó ở quá gần nhà mình, và cả
cây tuyết tùng cũng thế. Cây cối cần có không gian, bà luôn bảo
cháu như thế, chưa hết, biết đâu ngày nào đó, rễ cây có thể đâm
thẳng vào bồn vệ sinh giống như xúc tu của bạch tuộc, và hẳn
rồi, cháu không muốn cái điều đáng sợ đó xảy ra đâu! Bà đang
cố làm cho cháu cười, hoặc ít nhất là mỉm cười, nhưng chẳng
mấy thành công.
Qua giai đoạn bùng nổ dữ dội, ngày nào cháu cũng nằm bất
động dưới sàn phòng mình, nhìn trân trân cái bầu trời trì độn
bằng xi măng không thể giúp cho tình hình sáng sủa hơn.
Mới trước đó, trong một cuốn sách tranh của mình, cháu đã
đọc câu chuyện về loài hải sâm. Dù là một sinh vật tầm thường
vô hại, vô danh nhưng chúng vẫn quyết liệt bảo vệ mạng sống
của mình như bất kì sinh vật nào khác. Khi bị tấn công, ngay
lập tức, chúng phóng ra toàn bộ mớ bòng bong nội tạng - tim
gan, phèo phổi, những bộ phận nội tạng tái sinh được - để vô
hiệu hóa kẻ thù bằng cái thứ giống như tấm vải của đấu sĩ ấy, và
nhờ đó chúng có đủ thời gian để lủi tới nơi an toàn, náu mình
trong rừng tảo, nghỉ ngơi, để các tế bào của chúng tái hợp và
phân tách cho tới khi tạo ra được một phiên bản nội tạng hoàn
hảo thay thế thứ đã bị trục xuất.
Bà thấy đấy, cháu tự thấy mình rơi vào trạng thái giống như
con hải sâm sau một vụ tấn công: ruột gan trống rỗng. Cháu
không có lời nào để nói cả. Cháu không trả lời những câu hỏi
của bà. Chúng ta sống ở hai thế giới khác nhau; thế giới của bà
đầy lương tri ngự trị, trong khi thế giới của cháu là một vũ trụ
đen đặc và đầy tai ương, chốc chốc lại có sấm sét xoẹt qua. Mối
liên hệ giữa hai thế giới ấy rất rõ ràng: cháu có thể thấy thế giới
của bà, nhưng bà thì không thể hiểu được thế giới của cháu.
Và vì thế, đến ngày thứ ba, khi mà lương tri và lòng kiên
nhẫn của bà đã cạn kiệt, và có lẽ nhờ bác sĩ nhi khoa tư vấn, bà
mở cửa phòng cháu và nói, “Đủ rồi đấy! Cháu làm bà bực mình
lắm rồi. Chỉ là một cái cây thôi mà, lúc nào cháu cũng có thể
trồng một cây khác.” Rồi bà lại mải miết với đủ thứ việc trong
nhà, có lẽ giống như bao buổi sáng cháu đi học.
* * *
Cháu vốn không có tính cãi thẳng lại trước những lời buộc
tội. Không ai phải chịu trách nhiệm về khoảng cách giữa các
hành tinh; đó là do các định luật hấp dẫn. Tầm hiểu biết của
mỗi người cũng khác nhau. Bà cũng biết điều đó: bà từng hay
đọc cho cháu nghe truyện Hoàng Tử Bé, nên chắc bà biết mỗi
tiểu hành tinh đều có những cư dân của riêng nó. Cháu thấy hơi
bất ngờ vì bà đã không nhớ về chuyện cây bao báp, vì cây óc chó
này có khác gì cây bao báp ấy đâu. Bụi hồng bà cứ muốn mua
tặng cháu ấy, về sau cũng chẳng thế thay thế nó được.
Bụi hồng rất lung linh và tỏa hương thơm mát dịu, nhưng
bông hồng rồi sẽ bị cắt đi, cắm vào lọ hoa và cuối cùng sẽ nằm
gọn trong thùng rác. Nhưng một cái cây mà ta yêu quý cắm rễ
ăn sâu vào trái tim ta. Khi cây chết đi, rễ bị khô héo, quắt queo,
để lại những vết sẹo nhỏ nhưng hằn sâu, không thể lãng quên.
* * *
Người hay đổ lỗi về thất bại của mình trong cuộc sống cho
người khác - hay cho một sự cố nào đó - chẳng khác gì một con
chó bị buộc vào dây xích dài, cứ trượt theo sợi dây đó. Chẳng
mấy chốc, đám cỏ dưới chân con chó sẽ chết dần, và chỗ đất bị
giày xéo sẽ bê bết thức ăn vương vãi và những bãi phân chó.
Khi kiệt sức vì những bước cào liên hồi vô định đó, con chó rồi
sẽ chết và sợi dây xích còn lại lơ lửng, han gỉ; tất cả những gì
còn lại của một cuộc đời bất hạnh đó chỉ là những dấu vết buồn
trên nền đất.
Biến cố và con người không phải là những bì dằn, cũng
không phải là những ngõ hẻm mà ta không biết lối ra; chúng
giống những chiếc gương hơn: nhỏ, to, lồi, lõm, mấp mô, biến
dạng, nứt hoặc mờ, nhưng vẫn cho hình ảnh phản chiếu và cho
chúng ta biết một phần ẩn khuất trong chính chúng ta.
* * *
Hẳn là cháu đã thức tỉnh khỏi cuộc đời của một con hải sâm
vào đêm thứ tư hoặc thứ năm gì đó. Căn phòng của cháu ngập
tràn ánh trăng tròn lạnh lẽo. Cây móc treo quần áo phủ cái
bóng rùng rợn của nó xuống sàn. Tại sao phải để lại bóng trong
đêm tối? Để làm gì, nếu không phải để chứng minh cho sự tồn
tại của những thứ không thể cầm nắm được?
Hồi cháu còn bé, suốt cả buổi tối, bà thường ngồi bên giường
và kể chuyện cho cháu nghe. Trong mớ hỗn độn, nào công
chúa, bùa phép, những con vật khổng lồ và những chiến công
lẫy lừng, chỉ có hai hình ảnh vẫn khắc sâu trong tâm trí cháu:
đôi mắt vàng khè của con sói và những bước chân thình thịch,
vụng về của Quái vật Golem. Lũ sói rình rập trong rừng và dọc
những con đường hoang vắng, còn Quái vật Golem có thể đi tới
bất kỳ đâu; nó biết mở cửa, đóng cửa và leo lên cầu thang. Nó
không ăn thịt trẻ con hay biến chúng thành quái vật, vậy mà
cháu vẫn sợ nó hơn bất kì loài nào khác. Mỗi khi nhắc đến tên
nó, không khí quanh cháu như đóng băng lại.
Vào một đêm đầu thu, ẩm ướt nhưng không lạnh, cháu cảm
thấy choáng ngợp trước những cái bóng đáng sợ nên trở dậy và
ra ngoài.
Không gian thoang thoảng chút hương thơm gợi nhớ về mùa
hè rực rỡ. Đó có lẽ là mùi của vài quả táo còn sót lại trên cành,
số khác rụng đầy mặt đất, thối rữa, hoặc có lẽ là hương của
những trái mận vàng vừa chín tới. Vì nhiệt độ vẫn chưa xuống
dưới mức đóng băng, nên chỉ có vài chiếc lá rụng. Cỏ vẫn xanh,
lác đác đây đó là những cây hoa anh thảo dại và hai cây bồ công
anh còn sót lại sau đợt bà dọn sạch cỏ.
Tới lúc đó, cháu chợt nhận ra lòng mình thật trống trải.
Cháu tới chỗ cây óc chó từng đứng và khụy gối. Mặt đất ẩm ướt,
phủ đầy những nhánh cây gãy vụn, vương vãi khi cái cây ngã ập
xuống.
Không gian quanh đây, khi còn có cây óc chó, từng ngân lên
rất nhiều giai điệu; trong chốc lát, cháu thấy nó vẫn còn đây, rễ
nó vẫn đang hút lấy dưỡng chất bơm vào thân, những chạc cây
như những ngón tay đen ngòm vẫn đang truyền nhựa sống.
Mới đấy, quả hạch rơi đầy từ thân cây lừng lững, ăn sâu vào
lòng đất và nhú mầm, vươn lên bầu trời. Bản giao hưởng ngẫu
hứng của đám quả rụng đã đồng hành với tuổi thơ cháu những
khi mùa thu tới. Ngày ấy, mỗi khi đi học về, cháu lại chạy ra
đây, nhét đầy túi những quả óc chó.
“Đừng có nhặt, bẩn đấy.” Tiếng bà vọng ra từ cửa sổ bếp.
Nhưng kệ, cháu cứ lờ đi và tỉ mẩn bóc quả óc chó thật nhẹ
nhàng để chúng không vỡ. Cháu không ăn, mà để chúng trong
lòng bàn tay và nhìn ngắm. Không hiểu sao, cháu thấy chúng
giống hệt mấy bộ não trong sách giáo khoa - não của các động
vật có vú và các loài chim - với hộp sọ, như một cái vỏ bọc, bảo
vệ các bộ phận mong manh hơn, màng cứng, màng mềm, và,
vùng kiểm soát trí nhớ giữa hai bán cầu não.
Sao hai thứ trong tự nhiên lại giống nhau đến thế? Sao thứ
này lại liên hệ với thứ kia? Đó là quy luật vũ trụ, hay chỉ là sự
phóng đại của một phút thất thần?
Xung quanh nơi đây phủ đầy quả óc chó. Những cơn mưa rào
đã biến thảm cỏ xanh mướt của tháng Sáu thành lớp bùn nhão;
chỉ cần chọc nhẹ ngón tay, hạt cây sẽ lộ ra. Cứng đấy, nhưng
vẫn không thoát nổi móng vuốt và hàm răng nhọn hoắt chìa ra
của lũ sóc, hay những chiếc mỏ của bọn quạ mào, lũ chim ác là
và chim giẻ cùi; cứng, nhưng chưa đủ để có thể khiến cháu
ngừng thắc mắc.
Vì cái cây óc chó kia - nay sống mai chết - chính là tấm gương
đầu tiên phản chiếu cuộc đời cháu. Cháu khuỵ xuống vùng đất
tổn thương, nhìn vào vết sẹo hằn trên mặt đất, đằm mình trong
ánh trăng quái gở, tay vẫn cầm một hạt cây mà thấy lòng mình
trống rỗng. Khi quả tuyết tùng rơi đánh cộc khô khốc dưới
chân, cháu hiểu mình không thể vượt qua con đường phía
trước, con đường cô độc của một kẻ hay hoài nghi.
2.
MỖI KHI NHỚ VỀ NGÔI NHÀ CỦA CHÚNG TA, cháu lại thấy
nó lơ lửng trong ánh bình minh. Trời vẫn đang thu, vì mặt đất
bắt đầu bốc hơi sương mờ ảo dưới hơi ấm của những tia nắng
đầu tiên. Giống như một con chim đang bay lượn, cháu luôn
nhìn xuống ngôi nhà từ trên cao và rất xa; rồi từ từ tiến lại gần,
quan sát cửa sổ - bao nhiêu cửa đang mở, bao nhiêu cửa đang
đóng - và tới thám thính khu vườn, giàn dây phơi, những gỉ sắt
trên cánh cửa. Cháu không xuống vội - cứ như cháu muốn chắc
chắn rằng đó thực sự là nhà của mình, là câu chuyện của mình.
Dường như lũ chim di trú cũng giống như thế; chúng phải
bay qua hàng ngàn cây số, không màng tới ngoại cảnh, và rồi,
khi tới nơi chúng được sinh ra từ năm trước, chúng bắt đầu tìm
hiểu. Cái cây dẻ ngựa nở hoa trắng có còn đó không? Và cả chiếc
xe hơi màu xanh? Cả người phụ nữ tốt bụng luôn bước ra, giũ
những mẩu bánh mì còn vương trên khăn trải bàn nữa? Chúng
quan sát mọi thứ thật tỉ mỉ, vì suốt bao tháng ròng, ở những sa
mạc châu Phi, những hình ảnh về người phụ nữ và chiếc xe đó
đã ăn sâu trong tâm trí chúng. Nhưng có nhiều những phụ nữ
tốt bụng và những chiếc xe màu xanh trên thế giới, vậy làm sao
để xác định được cho đúng?
Không phải là bằng quan sát, mà bằng mùi hương, sự kết hợp
giữa các mùi hương vương vất trong không gian quanh tổ của
chúng; nếu có mùi hương của cây tử đinh hương và cây đoan
trộn lẫn vào nhau, thì đúng là nó, chính là ngôi nhà đó, và ta đã
tìm về đúng chỗ.
* * *
Còn mùi hương ùa tới khi cháu từ Mỹ trở về là mùi khét lẹt
của lá cây ẩm ướt không cháy nổi; lúc đó là tầm nửa buổi sáng,
nhà hàng xóm vừa mới chất một đống lá và đang hoài công
châm lửa đốt, khiến không khí xung quanh đặc sánh khói trắng
mù mịt.
Và rồi bà bước ra từ trong làn khói, có lẽ gầy hơn so với kí ức
của cháu.
Cứ ngỡ rằng cháu có thể tự giải thoát khỏi bà nếu có cả một
đại dương ngăn cách, cháu đã đi nhiều tháng, chứng kiến nhiều
điều, và gặp gỡ nhiều người, nhưng tất cả những khoảng cách
đó chỉ mang đến một kết quả hoàn toàn ngược lại.
Cháu vẫn ghét bà nhiều như xưa. Cháu thấy mình như một
con cáo đuôi dài bự xự vô tình xùa đuôi vào đám lửa, và lửa cứ
lẵng nhẵng bám theo cháu khắp nơi; dù tới đâu, lòng cháu vẫn
tràn đầy tức tối, đau đớn, và khao khát dập tắt ngọn lửa đang
bùng cháy phía sau, ngày một dữ dội và hủy hoại mạnh hơn.
Khi cháu tra chìa khóa vào cổng, cái đuôi lại phừng lên, kêu
tanh tách và tóe lửa như một bó cỏ khô, đám cháy xém lẹm
càng tăng cường bởi những ngọn lửa hung hãn.
Bà đang ở ngõ vào nhà, tay cầm chổi. Bà reo lên “Cháu đây
rồi!” và ném chổi xuống đất. Cán chổi gỗ đập vào nền đá lát
phát tiếng kêu khô khốc, sắc lẹm.
“Hẳn rồi,” cháu đáp lại, và không nói thêm một lời nào nữa,
cháu đi về phòng mình, con Buck lẽo đẽo theo sau, kêu ăng ẳng
hân hoan.
Những tuần sau đó, sự giằng co khó chịu vốn dĩ giữa bà cháu
ta lại tái diễn - cháu ghét bà, còn bà cố để cháu không ghét. Vào
những ngày bà khỏe mạnh, bà thường cố xoa dịu nó, nhưng
những việc bà làm thật yếu ớt, như một võ sĩ hết thời, và chúng
chỉ càng làm cháu thêm bực bội. “Bà muốn gì?” cháu hét lên.
“Bà đi đi!” Cháu gọi bà là “Bà lão”; cháu đá cửa, mồm lẩm bẩm
như tụng kinh, “Đừng quấy rầy cháu nữa, đừng quấy rầy cháu
nữa, đừng quấy rầy cháu nữa...”
* * *
Thật khó mà hiểu được sự căm hờn đó đã chất chứa trong
lòng cháu ra sao. Nó là kết quả của một chuỗi sự kiện, không
may lại kết hợp với bản tính bẩm sinh.
Khi những giây phút đầu tiên của tuổi trưởng thành đến, cái
dòng chảy bình yên trong tuổi thơ của cháu bắt đầu biến thành
một dòng sông vần vũ; làn nước không còn xanh nữa mà biến
thành vàng úa, và gầm rú khi dội qua mỗi vật cản. Mọi loại rác
thải bị cuốn đi trong con lạch đó - những chiếc hộp nhựa, túi
bóng, những quả banh da bị thủng, những thân hình búp bê trơ
trụi, những cành cây gãy nát, những xác mèo bụng trương
phềnh - và mọi thứ trôi bồng bềnh, thứ này mắc nhẹ vào thứ
kia, bất lực, uất ức, không thể tự giải thoát. Từ thuở nhỏ, đã có
quá nhiều điều tích tụ dưới lớp vỏ mà cả cháu và bà đều không
thể nhìn ra: nhiều năm trôi qua, dù nói ra hay chôn giấu, một
cái nhìn trừng trợn, một cái ôm âu yếm bị chối từ - những hiểu
lầm vốn là tất yếu trong bất kì mối quan hệ song phương nào đã biến thành hai kho thuốc nổ, nằm trong mỗi chúng ta.
Hai từ “chúng ta” đó, nhưng thực tình chỉ nên nói là “cháu”
thôi vì bà vẫn luôn nỗ lực hết sức mình để tránh mọi cuộc bùng
nổ.
Bà luôn im lặng nếu bà cho cách đó là tốt, bà cố nói thật
nhiều nếu bà nghĩ lời nói sẽ hiệu quả hơn, nhưng dù là lặng
thinh hay bày tỏ bằng lời thì cũng đều vô ích. “Sao bà không nói
gì cả?” cháu sẽ hét lên, giận dữ nếu thấy bà tỏ ra bàng quan.
“Sao bà không im đi?” cháu sẽ gầm gừ, khăng khăng những gì
bà nói chỉ làm cháu thêm ức chế.
* * *
Cháu thường xuyên rơi vào trạng thái khủng hoảng. Điện
ngập trong não cháu; những con mối hung hãn chạy loạn xạ
trong sọ cháu. Chúng làm tắt ngóm mọi ánh đèn, những bộ
hàm nhỏ xíu nhai nát dây điện, và mọi thứ chìm vào màn đêm.
Trong bóng tối đó, cuối cùng cháu cũng bình tâm trở lại. Bỗng
chốc dòng sông trong cháu biến mất, chỉ còn lại hồ nước, một
hồ nước nhỏ trên núi. Một con cá hồi béo mầm lượn lờ dưới
lòng hồ sâu, và ánh bình minh nhuốm hồng đỉnh núi.
Vâng, mọi thứ thực sự đều có thể bắt đầu lại, giống như đêm
tàn trời lại sáng. Cánh cửa sổ mở ra, không khí trong lành ùa
vào ngôi nhà; ánh sáng hòa với dòng khí mát rượi, và dường
như không còn góc tối nào ngự trị.
Chúng ta cùng nhau nướng bánh, cùng nhau đi mua sắm,
hoặc cùng tới thư viện để chọn vài đầu sách mới.
“Cháu cố uống thuốc nhé?” bà nói, và trong vòng hai, ba
tuần, cháu đã vâng lời bà.
Những tuần bình yên.
Thật đẹp làm sao, trong những tuần đó, vì được hít thở, tản
bộ, nhìn ngắm xung quanh mà bên tai cháu không còn văng
vẳng những tiếng ì xèo; thật thoải mái làm sao khi được ngủ và
thức dậy mà không canh cánh mối lo sợ òa vỡ.
Nhưng cũng như mọi điều tốt đẹp trên đời, nó chẳng bao giờ
tồn tại mãi.
Một buổi sáng, cháu mở mắt, và bỗng thấy cái bình yên tẻ
nhạt đó sao nặng trĩu.
Cháu cần nỗi đau để thấy mình đang sống. Cháu biết nó là
thứ a-xít, thuốc độc... bằng trực giác, cháu hiểu nó sẽ hủy hoại
ruột gan cháu và bất kỳ thứ gì chạm vào cháu; nhưng cháu
không thể từ bỏ nó. Lòng tốt và lẽ phải không có nhiều năng
lượng bằng. Chúng chỉ là những cảm xúc yếu ớt, nhạt nhòa vô
định.
Từ bình minh tới hoàng hôn, cháu đi lại bồn chồn chẳng
khác nào cái lõi núi lửa chuyển dịch. Tâm cháu lúc này giống
như lòng núi lửa tan chảy nóng bỏng, không lối thoát khí qua
những kẽ ngóc ngách, lỗ thông hơi hay rãnh thoát vô hình; thứ
đá mác-ma đỏ rực sôi sục vần vũ, dồi lên, rụt xuống nhịp nhàng
đều đặn và thi thoảng lại ồ ạt tràn ra.
Hồi mười một, mười hai tuổi gì đó, cháu vẫn còn ngồi trong
lòng bà trên ghế sô-pha đọc sách, nhưng chớm sang tuổi mười
ba, cháu bắt đầu mất kiên nhẫn, rồi mười bốn tuổi, câu chuyện
duy nhất cháu thực sự hào hứng là tìm hiểu về chính mình.
Vào một trong những buổi chiều như thế, khi chúng ta đang
cùng đọc sách - một trong những cuốn Nghìn lẻ một đêm mà bà
yêu thích - tháng Tư, cơn mưa lạnh giá xối xuống vườn và một
con người khác bỗng trỗi dậy trong cháu. Thình lình, cháu bật
dậy và chê bai, “Cháu hết chịu nổi quyển sách tẻ nhạt này rồi!”
Ngỡ ngàng, bà đặt cuốn sách xuống và nói, “Cháu ăn nói thế
à?”
“Cháu nói thế nào mặc cháu.” Cháu phản ứng rồi quay đi và
bước một mạch ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa phía sau
lưng.
* * *
Trong suốt tuổi thơ của cháu, khi bạn bè đồng trang lứa chúi
đầu vào các chương trình truyền hình, thì bà phủ lên cuộc đời
cháu những câu chuyện kể, những bài thơ, truyện thần thoại.
Bà yêu thích sách, và muốn truyền niềm đam mê đó sang cháu hoặc có lẽ vì bà nghĩ nếu được nuôi dưỡng trong những điều
lung linh đẹp đẽ người ta sẽ không còn phải sống trong sợ hãi
đề phòng.
Trong kí ức đầu tiên của cháu về cuộc sống của chúng ta,
sách luôn hiện hữu. Đó là cách bà xây dựng những mối quan hệ;
đó là thế giới của bà, thế giới mà bà trưởng thành. Những cuốn
sách giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc sống, như bà thường nói;
nhờ văn học, chúng ta có thể hiểu sâu sắc về cảm xúc của con
người.
Nhưng dù có vô vàn các nhân vật bất tử vây quanh, mỗi
ngày, cháu lại trăn trở nhiều hơn, chứ không trở nên hiểu biết
hơn. Tất cả bọn họ cứ ở giữa bà và cháu, một số thì ngồi, số
khác lại đứng; những khuôn mặt của họ lố nhố giữa chúng ta,
và cơ thể họ phủ bóng mờ ảo lên câu chuyện của chúng ta,
trong khi cháu muốn thấy ánh sáng, một thứ ánh sáng chân
thật và minh bạch.
Cháu chỉ thấy những khuôn mặt mà cháu thực sự muốn
thấy: khuôn mặt của cha mẹ mình.
* * *
Vâng, cái khoảnh khắc bối rối vô cùng đó ngẫu nhiên trùng
khít với sự tái hiện của mẹ. Trước đó, mẹ chỉ kín đáo xuất hiện
ở sân chơi. Chỉ có hai chúng ta, bà và cháu - hoặc cháu tưởng là
chúng ta - tự hài lòng trong mối quan hệ đó: không bất đồng,
không câu hỏi vô tư, và ngày tháng cứ trôi qua như chuyến tàu
mò mẫm trong sương mù dày đặc. Mọi thứ mù mờ, bao bọc và
không nơi bấu víu; chỉ có đường ray thô cứng đảm bảo cho sự
bình an của chúng ta.
Thế rồi, một buổi sáng tháng Năm, cháu tỉnh giấc và lần đầu
tiên nhận ra rằng trong cả ngôi nhà này không hề có một bức
ảnh nào của mẹ: phòng khách không, nhà bếp không, phòng bà
cũng không một dấu tích nào của mẹ, và bà cũng không biết là
cần phải treo ảnh mẹ trong phòng cháu. Dù cố hình dung ra
hình bóng mẹ thì trong cháu chỉ là những kí ức xa vời, mà ngày
đó cháu còn quá nhỏ, và đã nhiều năm trôi qua, những đặc
điểm của mẹ bắt đầu nhạt nhòa giống như nét vẽ phai dần dưới
ánh nắng. Chúng nhòe lẫn với khuôn mặt của người khác,
những mẩu chuyện khác.
Mẹ của cháu là ai?
Cháu chỉ biết hai điều về mẹ: mẹ mất sau một tai nạn xe hơi,
và mẹ học đại học ở Padua nhưng chưa kịp tốt nghiệp.
Buổi sáng đó, cháu lao vào bếp. Bà đã hâm nóng sữa, và đang
tắt lò.
“Chúng ta không có bức ảnh nào của bà ấy!” Cháu gào lên.
“Ảnh ai cơ?”
Trong tim cháu có âm thanh như tiếng băng nứt vỡ dưới
chân. Cổ họng cháu run lên trước khi khó nhọc thốt thành lời,
“Ảnh mẹ.”
Hai ngày sau, một khung ảnh nhỏ xuất hiện trên bàn ngủ của
cháu, với tấm hình đen trắng chụp một bé gái mặc bộ váy nhỏ
tự may xinh xắn đang ngồi trên chiếc bập bênh, vẫn là chiếc
bập bênh tay vịn màu đỏ ngoài sân kia. Cháu cầm tấm ảnh lên
và đi ra vườn tìm bà.
“Cháu không muốn ảnh con gái bà,” cháu nói. “Cháu muốn
ảnh mẹ cháu.”
Trước khi xé tan tấm ảnh, cháu đã kịp đọc dòng chữ phía
sau: Ilaria, 11 tuổi.
Thế rồi, một tấm ảnh in liền với màu sắc lòe nhòe xuất hiện
trong phòng cháu, chụp một phụ nữ trẻ tay chống cằm, dáng vẻ
đang lắng nghe ai đó trong một hộp đêm mù mịt khói thuốc.
3.
BÂY GIỜ THÌ CHÁU HIỂU RẰNG có thể những sự việc đó
mang sắc thái ý nghĩa khác nhau; những gì chúng ta nhìn thấy
bằng mắt thường luôn phiến diện. Có lẽ bà nghĩ ký ức về mẹ sẽ
làm cho cháu buồn, hoặc có thể vì bà vẫn còn quá đau khổ thấm thoát đã mười năm - và bà vẫn không cầm lòng được khi
thấy hình ảnh mẹ trong nhà. Có lẽ bà muốn âm thầm lưu giữ
ánh mắt và khuôn mặt mẹ trong tim. Ở đó bà lập bàn thờ mẹ; ở
đó, trong bóng tối và câm lặng, bà tưởng nhớ cái nỗi đau tột
cùng khi mất mẹ.
Nhưng ngày đó, với cơn thịnh nộ của một thiếu niên theo
Mani giáo, cháu chỉ thấy một phần của sự thật: xóa bỏ. Bà mất
con gái, và bà không buồn tưởng nhớ cô ta; còn gì khác có thể
chứng tỏ một trái tim vô cảm hơn nữa? Và hơn thế, người con
gái đó lại là mẹ cháu, đã chết yểu sau một cuộc đời mập mờ sáng
tối.
Quả thực bà đã không kể gì về mẹ với cháu cả. Tất nhiên
cháu đã có thể hỏi bà, và sau chút ngập ngừng, hẳn bà có thể
cho cháu biết về mẹ, và khi sống lại những khoảnh khắc đó,
băng giá trong trái tim bà sẽ tan chảy, cháu đã có thể đặt tên
cho những ký ức của mình, và bà đã có thể rũ bỏ gánh nặng đè
nén bao lâu nay; và cuối cùng chúng ta sẽ ôm nhau thật lâu, hai
khuôn mặt nhạt nhòa nước mắt, còn mặt trời thì lặn phía sau
lưng, mọi thứ xung quanh chúng ta sẽ chìm vào bóng tối.
Cháu đã có thể làm thế, nhưng cháu lại không làm. Đó là
khoảnh khắc giằng co mâu thuẫn, và vì thế giữa chúng ta toàn
là mâu thuẫn, ở mức đáng kể: tường đấu tường, thép đấu thép.
Ai cứng đầu hơn, trái tim sắt đá hơn sẽ là người tồn tại tới cùng.
Vì quá ám ảnh đổ lỗi cho bà, cháu luôn tin rằng bà hành động
như một loài vật nào đó đôi lúc đánh cắp con của loài khác và
nuôi chúng làm con mình. Bà muốn giữ tuổi thanh xuân, hoặc
có lẽ vì bà thèm có một cô con gái, do vậy bà đã đang tâm cướp
đi con gái của con mình, niềm hạnh phúc duy nhất của cô ấy.
Chung quy, cháu chỉ cảm thấy vì lý do gì đó mong muốn của bà
đã làm xáo trộn cuộc đời của mẹ, cả cuộc sống và cái chết của
mẹ, vì ngay cả có thể - cháu vẫn thấy rằng - hẳn là bà mang một
thứ trách nhiệm bí mật nào đó.
* * *
Thỉnh thoảng cháu nghĩ sẽ tuyệt vời biết mấy nếu lúc nào đó
trong tuổi thơ của mình có ai đó khua đũa thần và chỉ cho
chúng ta biết đường đi những ngày sắp tới trong cuộc đời chúng
ta. Chúng ta sẽ ngồi trên ghế, nghiêng đầu ra sau, và nghe một
ông lão râu tóc bạc phơ, giải thích về lộ trình đáng tin cậy nhất
để tới được trung tâm của lãnh địa bí ẩn đó.
Tại sao không ai cho chúng ta chút manh mối nào về thời
điểm ta cần chú ý? Chỗ này băng mỏng hơn, chỗ kia dày hơn,
hãy đi thẳng, rẽ, lùi lại, dừng lại và né tránh. Sao chúng ta luôn
phải kéo theo phía sau lưng sức nặng của những hành động
chưa được thực hiện và những lời chưa được nói ra? Tại sao
chúng ta sống, ngay từ khi sinh ra, đã bị bó buộc trong sự tù
đày kỳ quặc này? Mọi thứ với chúng ta dường như đều là vĩnh
cửu, và ý chí của chúng ta ngoan cố ngự trị thứ nhỏ bé rối rắm
được gọi là “tôi”, thứ mà ta phải tôn kính giống như một đấng
tối cao tôn kính. Giá ta chỉ cần mở mắt ra một giây thôi, ta sẽ
thấy kẻ trị vì ta đang nói tới đó thực ra là một ông vua con nhu
nhược, giả tạo, thiếu bản lĩnh và bị bó buộc trong tầm nhìn hạn
hẹp.
* * *
Đã bao nhiêu tháng trôi đi kể từ khi cháu trở về?
Ba, có lẽ là bốn tháng. Trong những tháng ngày đó, cháu đã
không biết chuyện gì đang xảy ra; cháu không để ý thấy đôi lúc
bước chân của bà lơ đễnh hoặc ánh mắt bà thoáng chút mơ
màng.
Một sáng, cháu nhận được dấu hiệu đầu tiên khi cơn gió bora
thốc tới. Cháu đi mua bánh mì và sữa trước khi mặt đất đóng
băng lại, và khi trở về, bà đón cháu bằng một nụ cười rất đỗi
ngạc nhiên, và vỗ tay háo hức: “Ta có tin cho cháu đây; có
người ngoài hành tinh ở trong bếp nhà ta đấy!”
“Bà nói gì thế ạ?”
Cháu không biết nên cười hay nên nổi cáu.
“Cháu không tin à? Lại xem đi. Ta không đùa đâu.”
Chúng ta vào trong bếp và lục tung mọi thứ lên để tìm kiếm.
Bà mở các ngăn kéo, lò nướng và tủ lạnh, càng lúc càng thêm lo
lắng. “Nhưng vừa mới đây mà,” bà cứ lải nhải. “Bà chắc chắn
chúng vừa ở đây. Giờ cháu nghĩ là ta lừa cháu đúng không?”
Cháu nhìn bà bối rối. “Đây là một trò chơi ạ?”
Bà có vẻ tự ái. “Có tới bảy, tám tên,” bà nói. “Lúc bà vừa bật
bếp, chúng xuất hiện trong ngăn lò. Khi bà tắt bếp, chúng nhảy
vào bồn rửa.”
“Và chúng làm gì ạ?”
“Nhảy múa. Ta không nghe thấy tiếng nhạc nào, nhưng chắc
chắn chúng đã nhảy múa.”
“Có lẽ chúng trốn qua ống nước rồi.”
“Ống nước? Đúng rồi, có lẽ thế. Có lẽ chúng đến rồi đi qua
vòi nước này.”
Từ hôm đó, người ngoài hành tinh bắt đầu tồn tại trong ngôi
nhà cùng hai bà cháu. Cháu giải thích nhưng cũng vô ích, rằng
người ngoài hành tinh đến từ những chiếc đĩa bay không xác
định UFO, rằng chỉ những người uống quá nhiều hoặc các nhà
khoa học ở Cơ quan Hàng không Vũ trụ NASA mới nhìn thấy
chúng, rằng không thể nào có chuyện họ nhảy múa trong gian
bếp nhà ai đó; nếu họ đáp xuống vườn nhà mình, cháu nói, thì
hẳn hàng xóm xung quanh đã nhìn thấy, và cây cối cũng sẽ bị
cháy rụi.
Bà lắng nghe cháu nói, nhưng nhìn vào ánh mắt bà cháu hiểu
bà vẫn chưa chịu từ bỏ.
Một hôm, cháu bảo, “Chắc không phải người ngoài hành
tinh đâu, cháu thấy giống vong hồn hơn.” Bà nhún vai nôn
nóng trước gợi ý này, như muốn nói, “Tùy cháu thích gọi là gì
thì gọi.”
Theo lời bà mô tả, chúng có màu xanh nhạt - như hạt đậu Hà
Lan tươi - và chúng cũng tròn như hạt đậu; nhưng tay chân
chúng giống chi của con tắc kè đứng thẳng. Đuôi ngắn, trọc lốc,
thay vì mũi và mồm, chúng có một cái kèn lớn, vừa dùng để
nói, ăn và để thở. Chúng thoắt ẩn thoắt hiện; chúng chui vào
ống khói, bơi trong bồn tắm, và vẫy bàn tay nhớp nháp nhỏ xíu
về phía chúng ta qua lớp kính của máy giặt. Đôi khi bà còn thấy
chúng bay lượn, lẩ...
 





