Ý nghĩa của việc đọc sách

Tài nguyên thư viện

SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH GIÁO KHOA

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 THỦY PHÙ - THỪA THIÊN HUẾ!

    SÁCH MỚI HÔM NAY - KỶ NIỆM THỜI THƠ ẤU

    Ảnh ngẫu nhiên

    0.jpg 9.jpg 8.jpg 10.jpg 5.jpg 6.jpg 3.jpg 2.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 2.jpg 1b.jpg 1.jpg Anh_2.jpg Z6484880837783_66eb92177cd25d4fa1c06e01b539f4a0.jpg LTTV3.jpg LTTV2.jpg LTTV_1.jpg

    SÁCH ĐIỆN TỬ SÁCH THAM KHẢO

    SÁCH ĐIỆN TỬ - TÌM HIỂU LỊCH SỬ

    KHÁM PHÁ ĐÓ ĐÂY

    Sự tích hoa Ngọc Lan - The Legend of Michelia Alba

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đoạn Tình

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
    Ngày gửi: 09h:47' 12-03-2024
    Dung lượng: 666.5 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Ðoạn Tình
    Hồ Biểu Chánh
    Nguồn: VNthuquan
    Tạo lại: Văn Cường.
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
    Chương 11
    Chương 12
    Chương 13

    Tiểu thuyết gia Nam Bộ có nhiều tác phẩm nhất nước.
    Hồ Biểu Chánh (1885-1958), cũng được đưa vào sách Kỷ lục Việt Nam
    bởi vì cụ đã sáng tác một khối lượng lớn tác phẩm bao gồm 64 tiểu thuyết,
    12 truyện ngắn, 12 vở kịch kể cả tuồng hát, 5 tập thơ, 8 tập ký, 28 tập biên
    khảo phê bình, một số truyện dịch và phóng tác. Trước khi cụ mất, năm 1957
    có tới gần 10 cuốn tiểu thuyết của cụ được xuất bản và năm cụ qua đời lại có
    thêm một tác phẩm được in có tên “Lừng lẫy hào khí”. Tất cả tác phẩm của
    cụ khi xuất bản đều ghi nơi cư ngụ, có nghĩa là nơi cụ sáng tác nên ta thấy cụ
    có mặt gần như ở khắp các tỉnh Nam Bộ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay có tựa đề
    “Ai làm được” ở Cà Mau, nơi cụ ngồi ghế quận trưởng nhưng phải tới 10
    năm sau cụ mới cho xuất bản.
    Cụ xứng danh là một tiểu thuyết gia có tầm cỡ. Thế nhưng, cụ lại là một
    nhà quản lý hành chính. Thuở nhỏ cụ học chữ Nho trường làng rồi chữ Pháp
    trường Tây. Sau đó, cụ thi đậu Tri huyện rồi thăng lên Tri phủ, làm Đốc phủ
    sứ, có lúc làm việc ở Tòa bố Gia Định, văn phòng Thống đốc Nam Kỳ làm
    Nghị viên Sài Gòn, Chánh văn phòng của Chính phủ thời Nguyễn Văn Thinh
    chóng vánh. Khi ông này tự tử thì cụ từ bỏ hẳn cuộc đời công chức (1946).
    Cụ Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung sinh trưởng trong một gia
    đình nghèo ở tỉnh Gò Công. Cụ đã từng làm quận trưởng ở nhiều quận,
    huyện thuộc các tỉnh Nam Bộ nên có nhiều cơ hội và điều kiện gần gũi
    người dân lao động, nông dân nghèo khổ bị nhiều tầng áp bức bóc lột vì cụ
    là một nhà Nho có Tây học, tuy là quan chức nhưng cụ sống thanh bạch,
    liêm chính quan tâm tới cuộc sống nghèo khổ (như lao động, tá điền), bị
    người giàu có, địa chủ cậy thế ỷ quyền hiếp đáp. Sách của cụ sáng tác bán rất
    chạy vì được mọi thành phần trong xã hội ưa thích. Nhà phê bình văn học
    Vũ Ngọc Phan từng nhận xét về cụ: “Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh lại là
    những tiểu thuyết có tính chất bình dân, bình dân cả từ nhân vật ông chọn
    đến những lời văn ông viết nữa. Hạng người ông tả là hạng tiểu công chức,
    tiểu phú hào hay hạng thuyền thợ, hạng dân quê.”
    Văn chương chữ nghĩa của Hồ Biểu Chánh câu chữ hết sức giản dị, đơn
    sơ, mộc mạc đến nỗi người đọc có cảm giác cụ viết như nói, kiểu nói bình
    dân của dân Nam Bộ xưa, nặng về mô tả điệu bộ, cử chỉ, phong cách của
    nhân vật.
    Một hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh được Ban Tuyên huấn Tiền
    Giang tổ chức thu hút tới 30 tham luận của các giáo sư, nhà văn, nhà nghiên
    cứu, phê bình văn học. Tiến sĩ Lê Ngọc Trà cho rằng: “Cái độc đáo và giá trị

    nhất của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không phải ở chỗ nó mô tả phong tục
    hay tuyên truyền đạo lý mà ở chỗ nó mô tả phong tục, kết hợp tư tưởng là
    chủ nghĩa hiện thực…, văn học dễ biến thành dân tộc học. Ông nói chuyện
    đạo lý đi kèm với chuyện đời, kể lại những chuyện đời khác nhau có thể là
    không gắn gì với các biến động chính trị, kinh tế và xã hội nhưng lại gắn với
    đời người, lại là nội dung của cuộc sống hằng ngày”. Nhà nghiên cứu
    Nguyễn Ngọc Thạch viết: “Trên nửa thế kỷ trước, Hồ Biểu Chánh đã phác
    họa được bức tranh hiện thực về kiếp sống người bần cố nông dưới chế độ
    thực dân nửa phong kiến ở một vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ông đã
    dựng lại cảnh sống vất vả, cực nhọc đói cơm, rách áo, bị đàn áp nhục mạ…
    của người nông dân nghèo”. Nhà nghiên cứu Trịnh Hoàng Mai viết: “Thế
    giới nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh bước cuối cùng bao giờ
    cũng trở về nhà sau một thời gian ba chìm bảy nổi. Nói rộng ra, cái thiện bao
    giờ cũng thắng. Đó là niềm mơ ước về một xã hội công bằng, một đạo lý,
    hơn nữa một niềm tin…”
    Cụ Hồ Biểu Chánh từ lúc nghỉ hưu tới ngày qua đời ở với 8 người con
    cùng sống trong ngôi nhà cạnh con đường nay được mang tên cụ thuộc quận
    Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Ở quận Gò Vấp, trong An Tất Viên,
    ngôi mộ của cụ đẹp và sạch được treo rất nhiều giò phong lan, chậu cảnh.
    Trên mộ có khắc 8 tựa đề tiểu thuyết của cụ và hai bên hông có tên 8 cuốn
    nữa. Dưới chân cụ có câu: “Treo tranh chìm nổi, nhắc chuyện xa gần”. Bên
    cạnh mộ cụ ông là mộ cụ bà. Nơi đây không xa với ngôi chùa và nghĩa trang
    nghệ sĩ thành phố, nhà lưu niệm của nhà thơ Nguyễn Bính

    Hồ Biểu Chánh
    Ðoạn Tình
    Chương 1
    Chẳng luận người Việt Nam, người Pháp hay người Tàu, ai có xe hơi thẩy
    đều biết hãng “Thuần Hoà” ở Sài Gòn, tại đường Phan Thanh Giản. Hãng ấy
    choán trọn một dẫy phố 5 căn: căn đầu thì bán vỏ ruột cùng các đồ phụ tùng
    xe hơi; căn kế đó thì chia phòng cho ông Chủ hãng với mấy thầy cô làm việc
    giấy; còn ba căn chót thí chứa mười mấy cái xe hơi mới tinh để bán, lớn có
    nhỏ có, thứ nào cũng đẹp.
    Ở phía sau lại còn có một cái xưởng rộng lớn, trong ấy có đủ máy để sơn xe
    và tiện hoặc đúc các đồ phụ tùng theo máy móc xe hơi.
    Thầy thợ trong hãng đông đầy, mà khách tới mua đồ, coi xe hoặc sửa xe
    cũng nườm nượp, trước hãng thường có đôi ba chiếc xe hơi đậu luôn luôn.
    Một buổi chiều, Thuần là chủ hãng, mình mặc áo sơ mi cụt tay, đi qua đi lại
    một mình trong phòng làm việc, bộ như suy nghĩ một việc gì quan hệ lắm
    vậy. Thuần mới 28 tuổi, lại nhờ hồi nhỏ có tập luyện thể thao nhiều, nên vai
    ngực nở nang, tay chân cứng cỏi, tướng mạo coi rất mạnh mẽ. Thuần không
    ưa nói nhiều, song ưa suy nghĩ. Gương mặt nghiệm nghị mà ôn hoà vui vẻ,
    làm cho ai ngó thấy cũng biết liền là người chân chất mà quyết đoán.
    Chuông điện thoại reo reng reng. Thuần bước lại đứng dựa bàn viết, một tay
    thọc vào túi quần tây, một tay nắm ống dây thép nói kề vào tai mà nghe rồi
    nói: “A lô!… Phải, đây là hãng Thuần Hoà… Phải tôi…. Còn tôi được hân
    hạnh mà nghe ai nói đó?.. À! Tôi kính chào ngài… À… được, được lắm…
    Ngài nói chỗ nào?… Ðường Quản Hạt số 1, chỗ Gõ Ðôi?… Tôi biết, tôi biết,
    đường đi Tây Ninh, khỏi ngã ba Bà Ðiểm một chút đó mà… Ðược, tôi sẽ
    biểu đi liền, xin ngài an tâm… Chào ngài”.
    Thuần gác ống nói rồi bước ra ngoài cửa phòng kêu thầy hai Tịnh, là người
    trộng tuổi, làm Quản lý trong hãng, mà nói:
    - Thầy Hai, ông Ðốc tờ Huỳnh kêu dây nói cho tôihay rằng xe của ông chết

    máy nằm trên đường đi Tây Ninh, tại chỗ Gò Ðôi, và ông cậy hãng cho xe
    lên kéo về mà sửa cho ông. Thầy làm ơn biểu dưới xưởng cho một cái xe đi
    liền kẻo tối.
    Ông Hội đồng Bính ở Gò công, lúc ấy ông đương bước xuống xe hơi mà vô
    hãng. Thuần quen biết nhiều, nên lật đật đi ra cửa tiếp đón.
    - Ông mới lên? Xưa rầy lâu gặp ông dữ…
    - Tôi lên hồi trưa. Mấy tháng nay không có việc chi nên tôi không có đi Sài
    Gòn.
    - Ông mua xe hơi mới mà đi, xe của ông cữ rồi, đi coi xưa quá.
    - Thôi, bề nào cũng tiếng “có xe hơi”, mới cũng cũng vậy; xe mới nhiều tiền
    lắm.
    - Ông đổi thì tôi tính giá nhẹ cho.
    - Không. Cái xe của tôi hên lắm. Tôi đem lên tính cậy hãng sơn lại cho mới
    mà thôi.
    - Ðược. Xe ông để cũ quá. Phải sơn cho thường kẻo thùng bị sét rồi mục hết.
    - Xe tôi nước sơn còn tốt lắm mà. Tôi giữ kỹ lắm, hễ đi về thì tôi biểu rửa
    chùi lau sạch sẽ rồi bỏ mùng xuống bao trùm hết, bụi cát không đóng được,
    bởi vậy 4 năm nay tôi không sơn mà vẫn còn tốt. Sơn xe của tôi đó giá bao
    nhiêu?
    - Ông muốn sơn cọ hay là sơn máy?
    - Sơn cọ là sơn cách nào?
    - Sơn tay… Sơn máy tốt hơn.
    - Vậy thì sơn máy.
    - Sơn máy thì mắc hơn.
    - Bao nhiêu?
    - Ông đừng lo giá cả mà. Hãng tôi không bao giờ tính mắc đâu. Xin ông
    bước lại đây rồi thầy hai tính giá cho.
    Thuần dắt ông hội đồng Bính lại giao cho thầy hai Tịnh rồi đi vô phòng.
    Thấy co hai phong thơ để trên bàn viết, Thuần liền ngồi xé bao thơ mở thơ ra
    mà đọc. Bức thơ đầu là thơ của ông Võ Ðại Ðộ, điền chủ Ô Môn, hỏi muốn

    đổi xe cũ lấy xe mới và hỏi phải bù cho hãng bao nhiêu. Còn bức thơ sau là
    thơ của thầy năm Thiện, ở dưới coi ruộng cho Thuần dưới Cái Bè gửi cho
    hay ruộng nước lớn quá, đã ngập lúa hai ngày rồi, sợ mùa này thất nhiều và
    hỏi có nên ra lúa cho tá điền mượn ăn nữa hay là phải ngừng lại.
    Thuần ngồi chống tay nơi trán mà suy nghĩ một hồi lâu rồi bước ra ngoài đưa
    hai bức thơ cho thầy hai Tịnh và dạy trả lời liền với ông Võ Ðại Ðộ, xin ông
    đem xe cũng của ông lên cho hãng xem rồi mới định giá cả được; còn với
    thầy năm Thiện thì biểu thầy cứ phát lúa cho tá điền mượn ăn như thường,
    nếu mùa này rủi thất, họ không trả được, thì để cho họ thiếu đó, chớ nếu bặt
    lúa ăn, thì tá điền tản lạc hết, rồi mùa tới còn ai mày cày cấy. thuần dặn viết
    não và biểu đánh máy ký tên gởi trong buổi chiều ấy, rồi Thuần đi xuống
    xưởng mà xem xét công việc của thợ làm.
    Mặt trời gần lặn, Thuần trở lên phòng làm việc. Cô Như, là người đánh máy
    trong hãng, đánh hai bức thơ trả lời vừa xong, nên cầm vào cho Thuần ký
    tên. Thuần đọc mỗi bức thơ, ký tên rồi trao lại cho cô Như, tuy cô mới 21
    tuổi, gương mặt sáng rỡ, mắt hữu tình, miệng hữu duyên nhưng mà Thuần
    không ngó cô và cũng không một tiếng chi cho vui lòng cô đứng chờ đợi.
    Cô Như bước ra thì thấy hai Tịnh liền vào nói:
    - Chín Sung sửa xe của ông huyện Hội mới rồi nó đem ra chạy thử máy rủi
    cán một thiếm xẩm trên đường hai mươi. Bầy trẻ mới về nói cán nặng lắm.
    Thuần đứng dậy nói:
    - Chín Sung kỹ lưỡng lắm mà; tại sao chạy xe lại cán người ta kìa?
    - Gặp rủi ro, biết làm sao được.
    - Ðể tôi lên đó tôi coi thử coi. Cán trên đường hai mươi mà lối nào?
    - Bầy trẻ nói ngang xóm lao động.
    - Tôi đi… Nếu trễ thì tôi về luôn trong nhà.
    Thuần lấy áo bận, lại đứng ngay cái gương mà chải tóc sửa “régate” rồi ra
    đường leo lên cái xe riêng của mình cầm bánh mà chạy qua đường Verdun,
    đặng lên đường hai mươi. Lên tới xóm lao động, không thấy gì hết. Thuần
    bèn ngừng xe ngang một cái quán mà hỏi thăm. mấy người ở đó chỉ chỗ xe

    cán cho Thuần coi, nói lỗi tại thiếm xẫm chớ không phải tại sớp-phơ bởi vì
    thiếm gánh nước đi một bên đường thì phải lắm chừng xe hơi tới gần, thiếm
    vụt băng ngang qua lộ, sớp-phơ không thể tránh hay là ngừng kịp, tự nhiên
    phải đụng thiếm. Họ lại nói xe hơi chở thiếm xẫm với chồng thiếm vào nhà
    thương Chợ Rẫy rồi.
    Họ còn nghị luận về sự xe hơi cán. Có người nói: “Hễ nghe có tai nạn xe hơi
    thì ai cũng định lỗi tại xe, bởi vì xe chaỵ mau nên mới cán người ta. Song tôi
    thường thấy nhiều người đi đường họ kỳ lắm: có người họ đi giữa lộ, chớ
    không chịu đi một bên, có người họ muốn đâm ngang qua lộ thì họ đâm đại
    không thèm ngó trước ngó sau. Còn có bọn đi ba bốn người họ đi dăng
    ngang bít đường hết, xe kéo la, hoặc xe máy reo chuông, họ không thèm
    tránh. Ði đường như vậy không bị đụng, không bị cán sao được. Tôi tưởng ở
    Sài Gòn này nhà nước nên ra lệnh cho mấy thầy đội gác đường phải gia công
    mà dạy cách đi bộ mới được hay là nhà nước lập luật định cách đi bộ ai đi
    sái luật thì phạt cho họ thật nặng, thời may mới bớt tai nạn về xe dựng xe
    cán”. Thuần nghe những lời ấy thì chúm chím cười. Vì phải đi riết vô nhà
    thương mà thăm bệnh tình thiếm xẫm thế nào, nên Thuần xin mấy người
    trong quán nếu cò bóp có đòi, thì làm chứng giùm cho công bình, rồi leo lên
    xe đi Chợ Lớn.
    Vô nhà thương gặp chín Sung hỏi lại, thì chín Sung cũng thuật việc rủi ro y
    như lời của mấy người trong quán ngang xóm lao động nói hồi nãy.
    Ðốc tờ khám bệnh thiếm xẩm rồi nói thiếm gẫy hết một cái xương ống chân
    trái, có lẽ phải nằm nhà thương một tháng mới mạnh.
    Thuần liền đóng tiền nhà thương một tháng cho thiếm xẩm, lại đưa 10 đồng
    bạc cho chú khách chồng thiếm xẩm, mà nói:
    - Nị lấy tiền đây đặng đi xe ra vô thăm vợ. Ðể mai sớp-phơ lên nhà nị tính
    toán, đừng có đi thưa cò bóp thất công.
    Không biết chú khách này vì nghĩ xe đụng lỗi tại vợ chú, hay là vì thấy 2 tấm
    giấy bạc 5 đồng mà choá mắt, mà chú lấy bạc rồi chú cười ngỏn ngoẻn nói:
    - Ồ! Ðược mà, hông có sao… Thưa cò bóp làm chi.

    Chín Sung nói:
    - Hồi đụng rồi đó có thầy Ðội lại biên số xe, biên tên họ của tôi, thầy biết tôi
    làm trong hãng Thuần Hoà, nên không bắt tôi, biểu tôi chỏo thiếm xẩm vô
    nhà thương mà thôi.
    Thuần gật đầu biểu chín Sung đem xe về hãng.
    Thuần lên xe riêng mà chạy thẳng về nhà.
    Hồi chiều hay tin lúa bị ngập, bây giờ lại thêm vụ xe cán thiếm xẩm nữa.
    Trong một buổi chiều mà xay ra tới hai việc hại, thế thì vui làm sao được,
    bởi vậy Thuần cầm tay bánh cho xe chạy mà trí lơ lửng không an.

    Hồ Biểu Chánh
    Ðoạn Tình
    Chương 2
    Nhà riêng của Thuần ở trong đường Cây Quéo, thuộc tỉnh Gia Ðịnh.
    Một toà nhà lầu cất kiểu tối tân, giữa một cái vườn rộng rãi. Ðưòong xe vô
    nhà dọn trịch qua bên phía tay phải bởi vậy trước nhà còn nguyên một
    khoảng đất rộng lớn. Trong hàng rào đúc sạn rào dọc theo lộ Cây Quéo, mà
    đối với cửa cái trong nhà ngay bót, thì có cây xoài thật lớn, gốc cả ôm, tàn
    chần vần, lá xum xuê, dưới gốc cây cổ thụ ấy có một cái băng đá, để lúc
    chiều mát, hoặc trăng trong, ngồi mà hứng gió. Sân thì xẻ đường ngang
    đường dọc, dài theo mỗi đường thì đắp lề thành liếp, rải phân rồi khoảng
    trồng hường, khoảng trồng gấm, khoảng trồng chuối nước, khoảng trồng
    gấm, khoảng trồng chuối nước, khoảng trồng cẩm nhung. Dài theo đường xe
    vô và trong mấy vuông đất trước sân trì trồng mít tố nữ, sa bô chê, mãng cầu
    xiêm, lu-cu-ma, tuy cây còn nhỏ nên chưa có trái, song nhờ có giếng đào tại
    gốc rào, nước có sẫn cho gia đình tưới hàng ngày, nên cây lên sởn sơ, đọt
    đơm mạnh mẽ.
    Còn trong nhà, từng dưới, mà phía trước, thì để trọn làm phòng tiếp khách,
    phía trong, mà chính giữa là phòng ăn cơm, bên tay mặt là phòng khách đàn
    bà, bên tay trái là phòng đọc sách. Phía sau nữa, một bên là phòng rửa mặt,
    còn một bên là phòng tắm, hai phòng này có đặt máy nước kim thời.
    Từng trên lầu, phía trước dọn chỗ thờ ông bà, phía sau dùng làm buồng ngủ,
    trước sau đều khoảng khoát mát mẻ.
    Cuộc ở đẹp đẽ rộng rãi này, Thuần mới tạo ra vừa một năm nay mà thôi, về
    mua đất, về cất nhà, tốn gần 40 ngàn đồng bạc. Thuần thuộc về hạng tân học,
    có chí làm ăn lớn. Cách 6 năm trước, Thuần học bên Pháp thi đậu bằng Bác
    vật rồi trở về lập hãng xe hơi và cưới vợ, thì quyết dùng hết nghị lực và trí
    não mà tranh lợi quyền chớ không tính hưởng mùi sung sướng của tiền bạc.
    Nhờ cuộc làm ăn càng ngày càng thêm thạnh phát, tiền bạc du dả nhiều.

    thuần thấy vơ con mướn nhà ở ngoài Sài Gòn chật hẹp, nực nội, nên mới tạo
    cuộc này cho vợ con vui hưởng chút thanh nhàn hạnh phước, đặng mình an
    lòng mà tranh đấu trong trường thương mại kỹ nghệ với thiên hạ.
    Hôm nay Thuần về nhà đã quá 7 giờ rưỡi tối rồi, mệt trí nhọc lòng cả ngày,
    tính sẽ hiệp với vợ con đặng vui thú gia đình mà tạm quên các việc lo lắng.
    Thuần cho xe chạy thẳng vô nhà sau mà cất. Thằng bé Hậu là con của vợ
    chồng Thuần, năm nay đã được 4 tuổi, đương chạy chơi trên các sân gạch ở
    phía sau, có con xẩm giữ rằng theo một bên mà coi chừng, nó thấy xe của ba
    nó về thì lăng xăng chạy lại kêu: “Ba… Ba…” inh ỏi, con xẩm phải nắm tay
    mà ngừng bớt nó lại, Thuần cất xe rồi bước ra. Bé Hậu a lại ôm chân cha mà
    mừng, tóc bay phất phơ, miệng cười hịt hạt. Thuần cuí xuống ôm con mà
    hôn mấy cái rồi bồng luôn đi lại cửa sau mà vô nhà.
    vợ của Thuần là cô Hoà năm nay đã đuợc 25 tuổi. Vì có thai nghén hơn 5
    tháng, nên không trang điểm, cô mặc quần lụa trắng với áo “pijama” lụa màu
    hường, nghe chồng về thì cô ra đứng dựa cửa sau mà chờ.
    Thuần bồng con xâm xâm bước lên thềm, ngó thấy vợ thì thầm mong vợ nói
    một vài câu vui vẻ mà tỏ ý thân thiết ái ân, đặng mình quên hết những nỗi
    mệt nhọc. Trái với sự mơ ước của chồng, cô Hoà đã không giải phá dùm nỗi
    lo cho Thuần, mà cô lại cau mày quạu quọ nói:
    - Ði đâu mà chừng này mới về, để người ta ở nhà đợi chờ đói bụng muốn rã
    ruột. Muốn ta bà thì ít nữa cũng phải nói trước cho người ta biết chớ.
    Mấy lời trách cay đắng ấy lọt vào tai Thuần chẳng khác nào một thùng nước
    lạnh xối vào tâm can, bởi vậy Thuần thở dài một cái để con đứng xuống
    gạch mà nói:
    - Bầy trẻ sửa xe rồi cho chạy thử máy, rủi đụng người ta gẫy chân, tôi phải lo
    đi điều đình vụ ấy cho êm chớ đi đâu. Ở nhà đói bụng sao không ăn cơm
    trước đi, chờ làm chi.
    Cô Hoà dường như không muốn để ý tới vụ chồng nói đó, cô không hỏi
    thăm, mà cô lại kêu người nhà bảo dọn cơm cho mau.
    Thuần cổi áo máng trên giá rồi vô phòng rửa mặt mà gội rửa cho mát mẻ.

    Chừng Thuần trở ra thì thấy cô Hoà đã ngồi tại bàn ăn mà ăn trước một
    mình, gương mặt điềm nhiên. Thuần không biết đói bụng hết muốn ăn cơm,
    đi thẳng ra cửa trước đứng ngó mộng, trong lòng bàng hoàng, ngoài mặt lơ
    lửng.
    Bé Hậu đi theo, vói níu tay cha mà hỏi:
    - Sao ba không đi ăn cơm vậy ba? Má ăn kia, ba vô ăn với má đi.
    Thuần chúm chím cười và vỗ đầu con mà đáp:
    - Ðể ba nghỉ chút rồi ba sẽ ăn. Con ăn cơm rồi hay chưa?
    - Con ăn rồi hồi chiều.
    - Con muốn ăn thêm hay không?
    - Không. Con no lắm.
    - Con buồn ngũ hay chưa?
    - Chưa.
    - Thôi, con vô đây coi ba má ăn chơi.
    Thuần nắm tay dắt con trở vô bàn ăn, để con ngồi trên cái ghế tại đầu bàn,
    rồi mình ngồi ngang mặt vợ mà ăn, con ngồi chính giữa.
    Ðèn khí chiếu trong nhà sáng trưng làm cho cái quang cảnh có vẻ rất đẹp đẽ
    mà cũng rất đầm ấm. Trong nhà bàn ghế rực rỡ, lại thêm vợ chồng với con
    sum hiệp một bàn, cảnh hạnh phúc nào bằng cảnh gia đình phong phú hoà
    hiệp này. Tiếc thay bề ngoài thì là vậy, vì cô Hoà không vui rồi làm Thuần
    cũng không vui, bởi vậy cái hạnh phúc gia đình của Thuần đã đầy công tạo
    nó vẫn phảng phất lờ mờ, chớ không hiện ra tỏ rõ được.
    Thuần đang ngồi ăn mà trong lòng lạnh ngắt, thình lình nghe tiếng xe hơi
    chạy vô sân rồi ngừng. Không hiểu xe ai đến, vợ chồng Thuần chăm chú ngó
    ra cửa. Vợ chồng giáo sư Kiểm là bạn học của Thuần hồi ở bên Ba Lê, hăm
    hở bước vô. Giáo sư Kiểm thấy vợ chồng Thau62n đương cơm thì la lớn:
    “Người ta mời 8 giờ rưỡi dự tiệc đám cưới mà sao lại lén ăn cơm vậy?”
    Vợ chồng Thuần buông đũa đứng dậy chào mừng khách và mời ngồi.
    Thuần bợ ngợ nói:
    - Ma-phăm có nghén không đi đám cưới được, còn moa thì công việc đa

    đoan mệt quá, nên hồi sớm mơi moa đã có viết thơ cho Thậm mà cáo từ rồi.
    Giáo sư Kiểm lắc đầu nói giọng quả quyết:
    - Không được, không được! Anh em đã nhứt định không ai được trốn ở nhà.
    Ma-phăm Thuần có thai nghén cõ lẽ được viện cớ ấy mà cáo từ, tuy bao giờ
    bọn tân học chúng ta không cố chấp mấy tục lệ dị đoan hủ bại đó nữa. Còn
    phần toa thì toa không được phép kiếm cớ mà trốn anh em. Thậm mời đám
    cưới nó có nói: Bọn tân học chúng ta ở bên Pháp trở về xứ, ai cũng mắc lo
    chức nghiệp, nên ít có dịp hội nhau mà đàm luận vui chơi. Nhân lễ cưới của
    nó, nó kiếm mời đủ anh em hết thẩy đặng hội nhau vui chơi một đêm. Nó
    rước ban nhạc Ma-Ní tài tình; nó lại còn kêu bọn xẩm khiêu vũ Thượng Hãi,
    để ăn uống xong rồi chúng ta nhảy đầm chơi tới sáng. Nó có cáihảo ý với
    chúng ta nên mới sắp đặt như vậy đó, anh em ai cũng hứa đi hết thảy, sao toa
    lại thối thác không muốn đi? Toa tính phân rẽ bạn xưa mà chơi riêng hả?
    Ðừng có làm như vậy anh em phiền. Toa thay đồ cho mau đặng đi với moa,
    kẻo trể.
    Cô Hoà hỏi Kiểm:
    - Ông Thậm làm đám cưới mà đãi tiệc ở đâu?
    - Ðãi tiệc trong Chợ Lớn, tại tửu lầu “Tiểu Ðịa Võng”.
    - Nhà tôi có nói với tôi sự ông Thậm mời đám cưới, song tôi không nhớ mời
    bữa nào. Phận tôi có mang nên không thể đi được tôi tưởng nhà tôi đi một
    mình, chóo tôi có dè cáo từ đâu.
    - Thôi ma-đam ở nhà, để Thuần đi với tôi nghe hông.
    - Nhà tôi phải đi chớ, trốn ở nhà coi sao được.
    Kiểm day qua nói với Thuần.
    - Thuần, ma-phăm cũng xử toa phải đi, toa có nghe hay không? Đi thay đồ đi
    cho mau, a lê!
    Thuần đã chán cảnh gia đình buồn hiu hồi nãy, rồi nghe những lý luận của
    Kiểm trưng ra mà ép đi, lại còn thấy ý vợ muốn thôi thúc mình nữa, bởi vậy
    chàng đã xiêu lòng, song còn gượng mà cãi với Kiểm:
    - Anh em bày đặt buộc phải bận ái dài, bịt khăn đen. Moa không có khăn đen

    áo dài nên moa đi không được.
    - Phải, anh em nghĩ bọn lão thành thủ cựu họ khinh bỉ nhóm thanh niên tân
    học chúng ta, họ thường chê chúng ta học theo Âu Tây rồi vong bổn. Anh
    em muốn phản đối lời chê khờ khạo ấy, nên nhứt định hễ trong nhóm thanh
    niên tân học chúng ta mà cõ lễ quan hôn tang tế, thì chúng ta phải giữ lễ nghi
    của nước nhà, chúng ta phải mặc quốc phục, khên đen áo dài đàng hoàng.
    Tuy anh em định như vậy, song mình không sẵn khăn đen áo dài, mình mua
    sắm không kịp, thì mình mặc Âu phục chớ biết làm sao. Toa thay đồ Tây mà
    đi, moa cũngmặc đồ tây đây vậy.
    - Moa mệt quá nên không muốn đi. Moa tính ăn cơm rồi thì chạy xe một
    vòng hứng mát và giải trí đặng ngũ cho khoẻ.
    Kiềm đưa hai tay nắm vai Thuần mà xô mà nói:
    - A-Lông, a-lông! Ði thay đồ cho mau, đừng có nhiều chuyện nữa. Nếu toa
    còn dụ dự nữa, thì moa dẽ bắt trói toa mà bỏ lên xe rồi moa chở toa đi đa.
    Cô Hoà tiếp lời:
    - Mình phải thay đồ đi với ông giáo sư chớ. Chẳng nên vắng mặt mà làm cho
    anh em phiền.
    Thuần rùn vai rồi đi lên lầu mà thay y phục.
    Cô Hoà mời vợ chồng Kiểm uống trà và hỏi Kiểm:
    - Không biết ông Thậm cưới vợ ở đâu vậy?
    - Cưới con một vị thương gia ngoài Sài Gòn.
    - Chắc bên vợ ông giàu lắm hả?
    - Tự nhiên. Bọn thanh niên đời nay họ nghĩ nếu cưới vợ nghèo là đem cái
    hoạ lớn vào nhà, còn cưới vợ xấu thì phải chịu tiếng nhạo báng trọn đời, bởi
    vậy ai cũng phải ráng mà kiếm vợ giàu, vợ đẹp.
    - Nếu vậy con gái nghèo với con gái xấu làm sao có chồng cho được?
    Kiểm rùn vai tiếp:
    - Họ làm sao được thì họ làm, hơi nào mình lọ cho họ.
    Bả Kiểm tiếp lời:
    - Ðời nay hễ có tiền nhiều dầu không có sắc đẹp cũng dễ lấy chồng, chớ

    không có tiền, dầu có sắc hay có hạnh cũng không mong có chồng được.
    Kiểm lật đật kết luận câu chuyện:
    - Nói tóm lại, thì đời này giấy xăng quý hơn tài, sắc, đức, hạnh hết thảy!
    Ba người cười xoà.
    Thuần thay đồ rồi ở trên lầu lon ton đi xuống, chân mang giày da láng ngời,
    mình mặc bộ đồ xăn tung thật khéo, cổ thắt nơ đen đàng hoàng. Vợ chồng
    Kiểm đứng dậy thúc Thuần ra xe mà đi liền. Cô Hoà đưa ra sân, xe chạy đã
    lâu mà cô vẫn cứ thơ thẩn hoài, không chịu đi nghỉ.
    Vô tới tửu lầu “Tiểu Ðịa Võng”, Kiểm đậu xe sát trong lề đưòong, khoá máy
    kỹ lưỡng, kéo ống quần sửa bâu áo, rồi dắt vợ và Thuần lên lầu; nhạc đánh
    rập rình. Lúc lên thang Thuần đưa đồng hồ tay ra mà coi rồi nói với Kiểm:
    - Ðã 8 giờ 40 rồi. Mình đi trễ một chút.
    Kiểm day lại mà đáp:
    - Thiếp mời 8 giờ 30 mình đến 8 giờ 40 mà trễ nỗi gì?
    - Trễ 10 phút, chớ sao lại không trễ.
    - Toa quê mùa quá. Theo lễ nghi của Việt Nam bây giờ, tiệc mời 8 giờ 30,
    nếu mình đến đúng giờ thì mình là nhà quê. Người sang trọng thượng lưu
    phải để 9 giờ rồi sẽ đến. Ðể lên lầu rồi toa sẽ biết, mình đến đây sớm hơn
    người ta nhiều.
    - Lễ nghi gì mà kỳ vậy! Khách mời đông người, chớ không phải một mình
    mình. Nếu mình đi trễ để người ta chờ đợi thì mình thất lễ quá.
    - Ấy! Bực sang trọng thì phải làm như vậy, phải để cho người ta chờ đợi, rồi
    họ đói bụng họ hỏi còn chờ ai nữa, đặng cho chủ tiệc nói: “Còn chờ ông này,
    còn thiếu ông kia”, làm thế ấy mới có danh, hiểu chưa?
    - Danh gì vậy?… danh thất giáo hả?
    - Không. Họ tính làm quảng cáo cho tên tuổi của họ chớ.
    - Gớm quá!
    - Còn nhiều cái gớm hơn nữa kia chớ!
    Y như lời của Kiểm đoán trước, lên tới phòng tiệc thật qua Thuần chưa thấy
    một bạn nào hết.

    Thậm mặc quốc phục vừa thấy Thuần với vợ chồng Kiểm thì lật đật chạy ra
    cửa mời vào. Thậm nói với Thuần:
    - Hồi sớm mai moa được thơ toa kiếu từ, moa giận lung lắm. Nếu chiều nay
    không có mặt toa, thì moa sẽ tuyệt giao với toa. Toa vô đây là may lắm.
    Thôi, ngồi uống rượu khai vị mà chờ anh em.
    Kiểm nói:
    - Thuần tính trốn. Moa ghé nhà moa bắt nên mới đi với moa đó.
    Thuần gật đầu cười.
    Thuần đứng ngó cùng khắp trong phòng tiệc, thấy dọn hai bàn song song,
    bàn nào cũng chưng bông rực rỡ, cũng có để rượu ê hề, song một bàn thì
    khách ngồi gần đủ, còn một bàn thì còn trống trơn, chưa có ai ngồi hết. Ðầu
    ngoài, gần chỗ nhạc, lại có dọn thêm một cái bàn ngang để cho đàn bà ngồi,
    bàn ấy cũng có khách đủ rồi, có bà già, có đàn bà, có con gái, người nào y
    phục cũng xinh đẹp.
    Thậm cắt nghĩa cho Thuần với vợ chồng Kiểm hiểu rằng khách ngồi một bàn
    dài với một bàn ngang là đằng gái, còn cái bàn chưa ai ngồi là bàn của khách
    đằng trai.
    Thuần liếc thấy họ đằng gái có vài người Pháp, có viên quan Việt Nam, có ít
    vị Hội đồng, có vài vị thi văn sĩ, còn bao nhiêu đều là thương gia có tên tuổi
    trong xã hội Sài Gòn. Trong đám khách ấy chỉ có một ông già mặc quốc
    phục, còn bao nhiêu đều mặc Âu phục.
    Thuần với Kiểm thấy họ đằng trai chưa tới nên không chịu ngồi, dắt nhau ra
    ngoài đứng ngó xuống đường chơi, để mặc cho Thậm thong thả mà sắp đặt
    cuộc tiếp khách.
    Quá 9 giờ, họ đằng trai mới lần lượt đến, có người dắt vợ, song phần nhiều
    thì đi một người, mà hầu hết đề là hạng thanh niên tân học, duy có vài vị mặc
    Âu phục, còn gần 30 vị bịt khăn đen, mặc áo dài, cũng như chàng rễ.
    Hai họ ngồi riêng, nên không ai chào ai, bởi vậy tuy hội chung một phòng,
    hai bàn cách nhau chừng vài thước, mà cũng như có vách tường phân rẽ hay
    là có đường mương cản ngăn.

    Mấy vị mặc quốc phục buộc mấy vị mặc Âu phục phải ngồi riêng một
    khoảng với phụ nữ, để cho hạng giữ lễ xưa ngồi chung với nhau.
    Thuần không làm theo phần đông nên trong lòng ái ngại, song thầm nghĩ bàn
    bên kia của họ đằng gái đều mặc y phục như mình, thì chắc mình không đến
    nỗi thất lễ.
    Khách ngồi vừa yên thì bồi bưng rượu mời khai vị. Mấy vị tân học mặc quốc
    phục, vị nào cũng biểu rót rượu mạnh thật đậm, rồi cụng ly với nhau. Ban
    đầu còn có thứ tự, câu chuyện nghe êm ái. Uống được vài tuần rồi, không
    hiểu vì bị ông men hành, hay vì là nhớ lễ nghĩa quen thuở nay, mà mỗi vị
    đều lớn tiếng om sòm, ai cũng nói hết thảy, tuy ai không thèm nghe ai, kẻ
    nói người la, chẳng khác nào trong sân đá banh, thiên hạ nhốn nhao lúc banh
    lọt vô lưới vậy.
    Thuần thấy thái độ hai bàn khác nhau, một bên ồn ào một bên trầm tĩnh, thì
    trong lòng khó chịu, ra dấu vợ chồng Kiểm bảo ra về. Kiểm chau mày suy
    nghĩ, có lẽ thầm tính thoát thân. May tiệc gần mãn mấy ông quốc phục bây
    giờ muốn khiêu vũ, nên xin mấy bà ngồi cái bàn ngang đứng dậy đặng lo
    dọn cho trống chỗ mà nhãy. Bàn khiêng đi rồi, bồi chưa kịp quét, mà họ đã
    đốc nhạc đánh lên, rồi có ông thì cặp đàn bà, có ông thì cặp anh em bạn mà
    nhảy.
    Có một điều rất tức cười, là có hai ông ôm nhau nhẩy rồi té lăng cù đùng,
    gây một trận cười cho bọn tửu bảo chi na. Còn một điều đáng tức cười hơn
    nữa, là có một vị tân học mặc áo bà ba trắng quần di mô di phụ nữ mà nhảy,
    sắc mặt hân hoan như thường, không dè việc mình làm đó là một việc nhục
    nhã, nhục nhã cho mình, nhục nhã cho điệu khiêu vũ là cái điêu chơi thanh
    nhã của người Âu châu.
    Nhờ có khiêu vũ lộn xộn, nên Thuần mới kêu vợ chồng Kiểm mà rủ về, rồi
    dắt nhau đi êm, không thèm giã từ ai hết, dường như chạy trốn cho khỏi cái
    chốn nhục nhã gớm ghiếc ấy.
    Kiểm cho xe chạy lên đường Bình hoà, tính về ngã Lăn Cha Cả, đặng hóng
    gió một chút. Thuần ngồi một bên Kiểm, cái quang cảnh tồi tệ dơ dáy hồi

    nẫy còn chàng ràng trước mắt, làm cho trong lòng khó chịu, nên buồn hiu
    không nói chi hết.
    Chừng xe ra tới đường trống, Kiểm mới nói với Thuần:
    - Mới lần thứ nhất moa thấy tiệc cưới như vậy đó. Nếu moa biết trước, dầu
    Thậm nó lạy mà mời, moa cũng không thèm đi. Moa xin toa tha cái tội moa
    ép buộc toa đi với moa đó. Ma-đam Thuần ở nhà thật là may lắm. Bà Kiểm
    ngồi một mình ở phía sau, mà tức giận quá, dằn lòng không được nên bà nói
    lớn:
    - Khốn nạn hết sức! Tôi thề từ rầy sắp lên tôi không dự tiệc với những người
    ấy nữa. Họ không biết lễ nghĩa gì hết, không phải Tây mà cũng không phải
    Việt Nam.
    Thuần day lại nói với bà Kiểm:
    - Bà giận đáng lắm, bởi vì người ta thất lễ với phụ nữ nhiều. Mà hai anh em
    chúng tôi đây thuộc trong bọn tân học, chúng tôi còn giận nhiều hơn nữa. Họ
    làm nhục lây cả bọn chúng tôi hết thẩy.
    - Phải, họ làm xấu chung cho cả bọn.
    - Chớ chỉ trong tiệc duy có bọn chúng tôi mà thôi, thì họ muốn vui chơi cách
    nào cũng được. Ngặt vì trong tiệc có cả trăm người, có đàn bà, có người sang
    trọng tử tế, có mấy người Pháp, có một đám tửu bảo, rồi đây những người ấy
    họ sẽ bình phẩm về nhân cách, về giáo dục của bọn chúng tôi mới là khổ.
    Thuở nay bọn chúng tôi thường khoe khoang: “Thanh niên tân học là hy
    vọng của nước nhà, là hoa thơm của non sông”. Chắc từ rầy người ta sẽ lấy
    quang cảnh bữa tiệc này làm bằng cớ mà nói: “Non sông có những đám hoa
    như vậy coi dơ chứ không đẹp; nước nhà có thanh niên tân học như vậy ắt
    thất vọng chớ không hy vọng”. Họ nói như vậy rồi chúng tôi làm sao mà cãi
    với họ?
    Kiểm liền thở ra mà đáp với Thuần:
    - May trong bọn tân học còn nhiều người khác nữa chớ chẳng phải bao nhiêu
    đó.
    - Nói ngay ra thì anh em họ phiền, chớ moa coi trong bọn mình có nhiều

    người không kể luân lý không biết giáo dục gì hết, họ chỉ trù nghĩ phương
    chước làm cho có tiền, dầu phải dùng phương pháp nào cũng được, có tiền
    cho nhiều đặng hưởng, đặng sung sướng xác thịt, đặng loè loẹt bề ngoài, họ
    không kể gì đến mạng vận của nhà nước, đến luân lý của xã hội, đến quyền
    lợi của chủng tộc.
    - Toa nói trúng lắm. Moa cũng thấy như toa vậy. Moa lại thấy cái làn sóng
    vô luân lý, vô giáo dục này nó càng lên mạnh thêm hoài; nếu không ai tìm
    phương mà ngăn cản, thì nó sẽ tràn khắp trong nước rồi cái xã hội Việt Nam,
    khi xưa tôn trọng đạo đức nên được cao thượng cứng cỏi, sẽ thành ra một xã
    hội hỗn độn tham lam, nên phải thấp hèn yếu ớt. Nền luân lý xưa của chúng
    ta đã xiêu ngã, bây giờ cần phải bồi đắp lại cho mau, phải tập cho người
    mình có cái óc tấn thủ cho cứng cỏi, có cái chí lập gia đình cho vững chắc,
    có lòng ái quốc nồng nàn, thì hoạ may mới khỏi hổ với thiên hạ.
    - Toa làm giáo sư, toa có thiên chức giáo dục. Ðó là phận sự của toa.
    - Một mình moa mà chống muôn xe sao nổi?
    - Toa cũng phải ráng, chẳng nên thối chí.
    Câu chuyện mới tới đ1o thì xe đã tới nhà Thuần, nên ngừng. Thuần từ giã vợ
    chồng Kiểm rồi mở cửa rào đi vô, đường kia nẻo nọ ngổn ngang trong trí.

    Hồ Biểu Chánh
    Ðoạn Tình
    Chương 3
    Thường ngày cô Hoà ngủ đến 7 giờ cô mới thức dậy. Mà bữa nào cũng vậy,
    hễ cô dậy thì cô thấy Thuần đã dậy trước rồi khi đi thơ thẩn ngoài sân mà
    xem bô...
     
    Gửi ý kiến