Sự tích hoa Ngọc Lan - The Legend of Michelia Alba
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Dấn thân

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 13h:46' 12-03-2024
Dung lượng: 10.4 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 13h:46' 12-03-2024
Dung lượng: 10.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
DẤN THÂN
Tác giả: Sherryl Sandberg, Nell Scovell
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Năm xuất bản: 03 – 2014
Khổ sách: 13 x 20 cm
Số trang: 352
Typing: linhngoc2601@TVE-4U.org
Tạo ebook: NQS
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI TỰA CỦA BÀ TÔN NỮ THỊ NINH
GIỚI THIỆU Tiếp thu nền cách mạng
CHƯƠNG I Khoảng trống tham vọng lãnh đạo
CHƯƠNG 2 Ngồi vào bàn
CHƯƠNG 3 Thành công và yêu quý
CHƯƠNG 4 Khung leo trèo thay thế chiếc thang
CHƯƠNG 5 Bạn có phải cố vấn của tôi
CHƯƠNG 6 Tìm sự thật và nói lên sự thật
CHƯƠNG 7 Đừng tử bỏ trước khi chính thức rút lui
CHƯƠNG 8 Bạn đời phải thật sự là bạn đời
CHƯƠNG 9 Hoang tưởng về người đa năng
CHƯƠNG 10 Hãy bắt đầu thảo luận
CHƯƠNG 11 Chung tay vì một thế giới bình đẳng
HÃY TIẾP TỤC TRÒ CHUYỆN...
LỜI CẢM ƠN
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
CHÚ THÍCH
LỜI TỰA CỦA BÀ TÔN NỮ THỊ
NINH
NGUYÊN Đại sứ Việt Nam tại Liên minh Châu Âu và Bỉ; Nguyên Phó
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội
Kể từ hoạt động đối ngoại đầu tiên của tôi khi cùng Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam tham gia Hội nghị Quốc tế của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Thế
giới ở Berlin, Đông Đức năm 1975, tôi đã có "duyên nợ" với sự nghiệp nữ
quyền. Nữ quyền là câu chuyện chung xuyên lục địa và xuyên thế hệ. Đó là
lý do vì sao tôi nhận lời viết phần giới thiệu cho bản tiếng Việt của tác phẩm
Lean In - Dấn thân. Mặt khác, chúng ta đều biết Sheryl Sandberg, cái tên đã
trụ vững trong danh sách 50 người phụ nữ quyền lực nhất thế giới của tạp chí
Fortune trong suốt 4 năm qua, do đó trước khi đọc quyển sách này, tôi có
phần e ngại nó chỉ tạo được sự đồng cảm từ phía một số ít những phụ nữ
may mắn nhất - những người vốn dĩ đã vươn lên được đến đỉnh cao trong sự
nghiệp.
Thế nhưng khi đọc xong quyển sách, tôi có thể khẳng định rằng Dấn
thân hướng đến hầu hết mọi độc giả và kể một câu chuyện gần gũi, tương
đồng với những khó khăn, phấn đấu và cảm xúc hàng ngày của đa số phụ nữ,
bất kể họ ở địa vị nào. Tôi đồng tình với hai nhận xét thẳng thắn của tác giả
cuốn sách: " Sự thật thẳng thừng là đàn ông vẫn đang lãnh đạo thế giới" ' và
"Cuộc cách mạng (đòi hỏi bình đẳng giới) của chúng ta đã chựng lại rồi".
Tác giả của cuốn Dấn thân không hề tìm cách quảng bá hình ảnh cá nhân
mình; thay vào đó, cô đã chuyển tải thông điệp mạnh mẽ về bình đẳng giới
một cách giản dị, mọi người đều có thể chia sẻ. Vượt qua ranh giới quốc gia,
văn hóa, Sheryl Sandberg đã "nói" được câu chuyện Nữ quyền một cách
rộng rãi cho phụ nữ các tầng lớp, và dễ dàng đi vào tâm trí của cả nam giới.
Lean in - Dấn thân là tinh thần mà Sheryl Sandberg muốn kêu gọi:
từng phụ nữ hãy vươn lên phát triển tiềm năng, phát huy đầy đủ nhất khả
năng của mình, tránh lối tư duy và tinh thần yên vị vốn đã ăn sâu trong tâm
thức phụ nữ. Quyền lực của người phụ nữ không phải là tham vọng tìm kiếm
những đặc lợi của quyền lực cứng, mà là sự nỗ lực tạo quyền năng cho bản
thân dựa vào nội lực và giá trị cốt lõi của mỗi cá nhân và từ đó lan tỏa ảnh
hưởng. Sheryl Sandberg nhắn nhủ chúng ta: Phụ nữ hãy dám ngồi vào bàn
lãnh đạo.
Đồng thời, Sheryl cũng thừa nhận rằng chúng ta không chỉ nên "phá"
trần, mà phải nâng cả mức sàn. Ý của cô là cần cùng lúc khuyến khích ngày
càng nhiều lãnh đạo nữ xuất hiện và quan tâm đến quyền lợi số đông phụ nữ.
Ở Việt Nam, tôi lại thấy có xu hướng chú ý nâng sàn nhiều hơn. Đương
nhiên để giải quyết được cả hai đòi hỏi này đặt bài toán con gà - quả trứng:
thay đổi thể chế, hoàn cảnh trước - hay thay đổi trong tự thân người phụ nữ
(suy nghĩ, thái độ, tâm lý,...)trước. Hiển nhiên câu trả lời sẽ là: cần thay đổi
cả hai cùng một lúc, vì cả hai quá trình đều cần thiết và hỗ trợ lẫn nhau. Tuy
nhiên, tác giả cũng đặt vấn đề rõ ràng rằng quyển sách này tập trung vào việc
thay đổi tư duy và hành vi của phụ nữ.
Tôi thấy có một số điểm "gặp nhau" thú vị bất kể sự khác biệt văn hóa,
kinh tế - xã hội giữa hai đất nước: Mỹ và Việt Nam. Nổi trội nhất là những
nhìn nhận rập khuôn gần như phổ quát về tính chất và vai trò của nam và nữ.
Những rập khuôn đó là sự kềm hãm đối với phụ nữ. Tại Việt Nam, việc ca
ngợi những đức tính truyền thống của phụ nữ đôi khi khiến người phụ nữ trở
thành tù binh trong chính lâu đài được dát vàng của mình. Nói đến phụ nữ,
người ta thường đề cao sự dịu hiền, nặng tình cảm, tinh thần hy sinh...:điệp
khúc đó âm thầm "bài trừ" những người phụ nữ hành xử khác với những
chuẩn mực ấy và hàm ý họ thiếu nữ tính. Tôi không thuộc tuýp phụ nữ dịu
hiền, nhưng tôi tin tưởng rẳng tôi rất nữ tính. Thực chất, tôi nhận thấy sự rập
khuôn đó là một dạng"định kiến ngọt ngào" kìm hãm sự phát triển của nữ
giới.
Dù tại Việt Nam, Hoa Kỳ hay nơi nào khác trên thế giới, phụ nữ khi đã
tham gia công việc xã hội luôn đứng trước thách thức phải cân đối nhiệm vụ
gia đình - sự nghiệp. Liệu việc kêu gọi phụ nữ "giỏi việc nước, đảm việc
nhà" theo cách truyền thống có chất thêm gánh nặng cho phụ nữ? Tôi thấy
lời kêu gọi này thiếu công bằng, lỗi thời. Chính vì vậy tôi thấy rất mừng khi
được nghe một đấng nam giới - Giáo sư Tô Duy Hợp, Giám đốc Trung tâm
Khoa học Tư duy - lên tiếng phản đối việc áp đặt khẩu hiện phụ nữ "giỏi
việc nước, đảm việc nhà". Ông cho rằng phải là cả đàn ông và phụ nữ cùng
giỏi việc nước, đảm việc nhà. Nói cách khác phụ nữ nên thoát khỏi sự ám
ảnh phải vươn tới một sự hoàn hảo phi lý do xã hội áp đặt. Thay vào đó, phụ
nữ hay phấn đấu phát huy hết tiềm năng, và đạt đến sự toại nguyện bền
vững.
Tôi cũng từng có lúc bị vướng phải sự cầu toàn như vậy. Thời đó dù
rất bận rộn công việc và hoạt động xã hội, tôi mất nhiều thời gian cho việc tự
tay dọn dẹp sửa soạn nhà cửa sạch sẽ tinh tươm và hoàn toàn ngăn nắp, thời
gian mà lẽ ra tôi có thể dành cho bản thân. Cho đến một ngày, tình cờ tôi đọc
được trên tạp chí Time bài viết của một nữ doanh nhân. Bà kể bà đã tự giải
thoát khỏi khát khao muốn làm cho nhà cửa luôn bóng lộn như khách sạn 5
sao, và ngày nay bà cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều và thật sự hưởng thụ
cuộc sống gia đình êm dịu trong một căn nhà ít ngăn nắp hơn. Kể từ đó tôi
đã giải phóng cho mình khỏi loại áp lực cầu toàn đó.
Một sự thật khác xuyên biên giới cũng được Sheryl nêu ra là sự mong
muốn của phần lớn phụ nữ được mọi người quý mến yêu thích. Có một thực
tế là: đàn ông thành công thường được cả hai giới yêu thích, nhưng phụ nữ
thành công thường không được chị em yêu thích. "Học cách chống chọi với
chỉ trích là điều cần thiết cho phụ nữ". Theo tôi, khi bị chỉ trích, chúng ta cứ
tự tại, việc mình mình bình tĩnh làm, tự tin tiếp tục con đường đã chọn.
Sheryl còn cho rằng phụ nữ thành công thường ngại lên tiếng cho
quyền lợi của giới. Thay vì nói lên tiếng nói phụ nữ đối với nam giới, họ lại
thường tự chế ngự cảm xúc bản thân để tìm cách hòa đồng với môi trường
làm việc do nam giới chi phối. Kỳ thực những phụ nữ này không nhận ra
rằng cảm xúc giữ vai trò thúc đẩy, tác động tới quyết định của cả nam giới,
chứ không chỉ riêng của phụ nữ. Rập khuôn máy móc: Đàn ông - Lý trí, Phụ
nữ - Cảm xúc cơ bản là không đúng thực tế. Cả phụ nữ và nam giới cần phải
thoát khỏi kiểu nhận thức đóng khung xưa cũ đó.
Bên cạnh nhiều điểm tương đồng, cũng có những khác biệt trong tình
hình bình đẳng giới của Việt Nam và Hoa Kỳ. Một khác biệt lớn là tuổi nghỉ
hưu chênh lệch giữa nam giới (60) và phụ nữ (55). Vốn được xem là chính
sách ưu tiên cho phụ nữ ở Việt Nam trong những năm 1960, chủ trương này
đã áp đặt một "bức trần về tuổi" đối với cơ hội cho phụ nữ được bồi dưỡng
nâng cao nghiệp vụ và đề bạt, gây lãng phí năng lực và tài năng tại các cơ
quan. Mặt khác, tôi tin rằng cần tránh quan điểm giản đơn, trắng - đen trong
bình đẳng giới, không phải cái gì cũng phải máy móc 50- 50 giữa hai giới.
Như tác giả đã khẳng định phụ nữ phải hưởng cơ hội theo đuổi nghề nghiệp
"phi truyền thống" (đối với phụ nữ) nhưng không nên chạy theo định mức áp
đặt nhân danh bình đẳng giới.
Việt Nam còn phải phấn đấu mới đạt được mức tiến bộ như một số
nước ở Bắc Âu - có cả chính sách cho người cha nghỉ để chăm con. Tuy
nhiên Việt Nam đã có bước tiến như nâng thời gian cho phụ nữ nghỉ thai sản
lên 06 tháng. Tôi ngạc nhiên về tâm lý phụ nữ trong giới quản lý lãnh đạo ở
Mỹ thường ngần ngại tận hưởng chính sách bảo hiểm xã hội. Bản thân
Sheryl Sandberg khi sinh con cũng phải "lén lút" khi muốn rời văn phòng
vào 5h chiều, hầu như vì mặc cảm là muốn dành đủ thời gian cho gia đình.
Một khác biệt nữa là lời khẳng định của Sheryl rằng ở Mỹ, cô không
biết phụ nữ nào là lãnh đạo thành công mà chồng không ủng hộ. Điểm này
có thể do đàn ông Mỹ sẵn lòng tham gia công việc gia đình hơn. Tại Việt
Nam, hình như dư luận xã hội vẫn cho rằng phụ nữ thành đạt thường gặp khó
khăn trong việc giành được sự ủng hộ của chồng và duy trì hạnh phúc gia
đình. Thế nên tôi đồng tình với Sheryl Sandberg rằng quyết định then chốt
nhất đối với hạnh phúc phụ nữ là lựa chọn người bạn đời: đó phải là sự lựa
chọn đúng đắn, đã chọn thì phải chọn "trúng".
Không thể không đề cập khía cạnh ảnh hưởng của lịch sử và văn hòa
đối với bình đẳng giới. So với các nước Đông Bắc Á như Nhật, Hàn
Quốc...thì Việt Nam có truyền thống dân chủ hơn và ít gia trưởng hơn. Tôi
nghĩ có một phần do truyền thống của những nữ anh hùng lịch sử như Bà
Trưng, Bà Triệu...; cũng như việc phụ nữ tích cực làm ruộng, tư duy văn hóa
bình đẳng trong dân gian như "đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng
cạn,"...đã tạo nên những giá trị bình đẳng giới của phụ nữ Việt Nam. Phải
nói rẳng trong hoạn nạn, chiến tranh, thiên tai, phụ nữ đóng một vai trò quan
trọng. Thế nhưng đồng thời tôi cho rằng để có bình đẳng giới, phải thay đổi
tư duy, thái độ, hành xử của đàn ông chứ không chỉ nữ giới, vì di sản văn
hóa phong kiến còn ảnh hưởng khá nhiều trong tâm trí đàn ông Việt.
Phụ nữ càng lên cao càng phải thể hiện trách nhiệm với đồng đội nữ và
thế hệ phụ nữ đi sau. Việc có một người phụ nữ đứng đầu thôi chưa đủ: tại
một số nước Châu Á, Tổng thống hoặc Thủ tướng có thể là phụ nữ, nhưng
họ thường là những phụ nữ xuất thân từ những gia tộc chính trị hoặc thuộc
tầng lớp thượng lưu, ít đại diện cho tiếng nói của số đông phụ nữ.
Tôi rất tán thành với Sheryl Sandberg rằng:"Những thành quả xã hội
không bao giờ là thứ được ban cho, mà chúng ta phải giành lấy chúng." Tôi
còn muốn nhấn mạnh thêm là những thành tựu phải liên tục được đề cao,
củng cố, và phát huy tiếp. Chúng ta không thể tự mãn khoanh tay. Có thể lấy
Việt Nam làm ví dụ: Việt Nam dù đã đi trước trong số các nước đang phát
triển trong vấn đề bình đẳng giới (là một trong những nước đầu tiên đưa vấn
đề bình đẳng giới vào hiến pháp), tỉ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội đạt 27,3%
trong Nhiệm kỳ XI (2002-2007) mà tôi tham gia Quốc hội, nhưng đến kì bầu
cử 2011 tỉ lệ đó đã tụt xuống 24,4 %.
Sheryl Sandberg tin rằng:"Một thế giới thật sự bình đẳng là nơi mà
phân nửa các thể chế sẽ do phụ nữ lãnh đạo và phân nửa các gia đình do đàn
ông lãnh đạo...Điều đó sẽ mang lại một thế giới tốt đẹp hơn." Về điểm này,
tôi muốn nói lại hơi khác:"...và tất cả các gia đình chúng ta sẽ được cả nam
và nữ đồng lãnh đạo. Vợ-chồng, cha-mẹ cùng chia sẻ, hợp sức và có trách
nhiệm cùng nhau gầy dựng gia đình."
Để kết thúc phần lời tựa, tôi xin được nói rằng, cũng giống như Sheryl
Sandberg, tôi tự hào và tự tin khi khẳng định tôi là một người phụ nữ phấn
đấu cho bình đẳng giới. Đó là vì chính bản thân chúng ta, vì bao người phụ
nữ khác, vì một thế giới ngày mai tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta - cả nam và
nữ.
GIỚI THIỆU
Tiếp thu nền cách mạng
Mùa hè năm 2004 tôi mang thai đứa con đầu. Lúc đó, tôi đang phụ
trách nhóm bán hàng trực tuyến và vận hành tại Google. Tôi đã gia nhập
công ty được ba năm rưỡi, từ khi nó chỉ là một công ty mới thành lập vô
danh với vài trăm nhân viên làm việc trong một tòa nhà cũ kỹ. Em bé trong
bụng tôi được ba tháng thì Google cũng lớn mạnh thành một công ty có hàng
ngàn nhân viên và dọn vào một khu văn phòng phức hợp.
Giai đoạn mang thai của tôi cũng không mấy nhẹ nhàng. Chứng ốm
nghén thường gặp trong ba tháng đầu vẫn tiếp diễn với tôi suốt chín tháng
liền. Tôi tăng gần 16 ký, chân thì phù nề tăng thêm hai số, to như hai tảng
thịt mà tôi chỉ có thể nhìn thấy nếu gác chân lên bàn. Một kỹ sự "đặc biệt
nhạy cảm" tại Google đã tuyên bố đặt tên cho một dự án là "Dự án cá voi" để
tôn vinh tôi.
Một lần, sau khi buổi sáng mệt mỏi ngồi trong nhà vệ sinh, tôi phải
chạy vội đến văn phòng tham dự một cuộc họp với khách hàng. Google đang
lớn lên từng ngày khiến chỗ đậu xe trở thành vấn đề, và tôi chỉ tìm được một
chỗ đậu xe nằm khá xa. Tôi hối hả băng qua bãi đậu xe, nói vậy chứ thực tế
là tôi chỉ ráng lết nhanh hơn so với tốc độ rùa bò bình thường của một bà
bầu. Nhưng như thế cũng đủ làm cho cơn ốm nghén thêm nặng nề, và tôi
phải cầu nguyện trong cuộc họp này không có gì khác ngoài bài trình bày
được phát ra từ miệng tôi. Tối đó, tôi kể lại câu chuyện cho chồng nghe.
Dave, chồng tôi, cho biết tại Yahoo, nơi anh đang làm việc, người ta chỉ định
chỗ đậu xe dành riêng cho các bà mẹ mang thai ngay trước cổng vào văn
phòng.
Ngày hôm sau, tôi hùng hổ xông vào - hay đúng hơn là ì ạch lê vào tìm gặp hai nhà sáng lập Google là Larry Page và Sergey Brin trong phòng
làm việc, thực tế chỉ là một căn phòng lớn có đồ chơi và các thiết bị công
nghệ nằm lăn lóc trên sàn. Sergey đang ngồi trong góc tập Yoga. Tôi lên
tiếng rằng công ty cần có chỗ đậu xe ưu tiên cho bà mẹ mang thai, càng sớm
càng tốt. Anh ngẩng đầu lên nhìn tôi và đồng ý ngay lập tức, còn nói thêm
rằng tại sao anh không nghĩ đến sớm hơn.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn ái ngại là mình không nhận ra nhu cầu của
bà mẹ mang thai cần có chỗ đậu xe ưu tiên cho đến khi chính bản thân mình
mang thai. Tôi là một trong những phụ nữ giữ chức vụ cao tại Google, đáng
lý ra tôi phải có trách nhiệm suy nghĩ về những vấn đề như thế này. Nhưng
cũng như với Sergey, nó chưa bao giờ xuất hiện trong đầu tôi. Những phụ nữ
mang thai khác đã phải chịu đựng trong im lặng, không dám lên tiếng đòi hỏi
quyền lợi. Cũng có thể họ thiếu tự tin hay không có thẩm quyền để giải
quyết vấn đề. Một phụ nữ mang thai nắm giữ vị trí cao - cho dù người phụ
nữ này có hình dạng như cá voi đi nữa - cũng góp phần tạo ra nhiều thay đổi.
Hiện nay, tại Mỹ, Châu Âu, và nhiều nơi khác trên thế giới, đời sống
của phụ nữ đã được cải thiện rất nhiều. Chúng ta đứng trên đôi vai của
những phụ nữ đi trước, họ đã đấu tranh cho những quyền mà chúng ta
nghiễm nhiên cho rằng mình được hưởng. Năm 1947, Anita Summers, mẹ
của Larry Sumers, người đỡ đầu cho tôi, được tuyển dụng vào Công ty
Standard Oil. Khi bà nhận lời đi làm, sếp của bà nói, "Tôi thật mừng là cô
nhận lời. Tôi nghĩ rằng mình được lợi khi trả tiền ít hơn cho bộ não tương
đương." Phản ứng của bà là cảm thấy thật vinh hạnh. Đây là lời khen tặng
thật xứng đáng khi người ta đánh giá bà có bộ não tương đương nam giới. Bà
không bao giờ nghĩ rằng mình phải đòi hỏi được trả lương tương xứng.
Chúng ta càng phải biết ơn cuộc đời này nhiều hơn khi tự so sánh với
những phụ nữ khác trên thế giới. Vẫn còn nhiều quốc gia từ chối công nhận
quyền cơ bản của phụ nữ. Trên toàn thế giới, có khoảng 4,4 triệu bé gái và
phụ nữ bị giam cầm trong ngành công nghiệp tình dục. Tại các quốc gia như
Afghanistan và Sudan, các bé gái thường không được đi học hay đọc rất ít,
người vợ bị xem là tài sản của người chồng, và phụ nữ bị cưỡng hiếp bị ném
ra khỏi nhà vì làm ô nhục gia đình. Một số nạn nhân của cưỡng hiếp còn bị
cho vào tù vì "vi phạm đạo lý". Chúng ta đang đi trước hàng thế kỷ so với
cách đối xử không thể chấp nhận được tại các quốc gia này.
Nhưng biết rằng tình hình có thể tệ hơn không có nghĩa là chúng ta
không nên cố gắng cải thiện nó. Khi phụ nữ tuần hành trên đường đòi quyền
bầu cử, họ nghĩ đến một thế giới trong đó nam nữ thực sự bình quyền. Một
thế kỷ sau, chúng ta vẫn còn đang nheo mắt tìm cách đưa triển vọng này hiện
ra rõ hơn.
Sự thật thẳng thừng là đàn ông vẫn đang lãnh đạo thế giới. Điều này có
nghĩa là khi đưa ra quyết định có tác động đến chúng ta nhiều nhất, tiếng nói
của phụ nữ không được trân trọng. Trong số 195 quốc gia độc lập trên thế
giới, chỉ có 17 nước do phụ nữ lãnh đạo. Phụ nữ chỉ nắm giữ khoảng 20% số
ghế trong quốc hội trên toàn thế giới. Tháng 11/2012, trong cuộc bầu cử tại
Mỹ, lần đầu tiên phụ nữ chiếm được nhiều ghế trong quốc hội, nâng tổng số
lên thành 18%. Tại Việt Nam, có khoảng 24% số ghế trong Quốc hội do phụ
nữ nắm giữ. Tại quốc hội Châu Âu, một phần ba số ghế do phụ nữ nắm giữ.
Các con số này cho thấy không có nơi nào đạt gần đến 50%.
Tỉ lệ phụ nữ nắm giữ vai trò lãnh đạo trong các doanh nghiệp còn thấp
hơn. Chỉ có 4% số tổng giám đốc các công ty trong danh sách Fortune 500 là
phụ nữ. Tại Mỹ, phụ nữ giữ khoảng 14% các vị trí điều hành và 17% các vị
trí trong hội đồng quản trị, những con số hầu như không nhúc nhích trong
một thập niên qua. Khoảng cách càng rộng hơn đối với phụ nữ da màu, vốn
chỉ chiếm 4% các chức vụ cao cấp trong doanh nghiệp, 3% vị trí trong hội
đồng quản lý, và 5% ghế quốc hội". Trên khắp Châu Âu, phụ nữ nắm giữa
14% vị trí trong hội đồng quản trị. Tại Việt Nam, khoảng 5,23% các công ty
trên sàn chứng khoán tp Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn chứng khoán Hà Nội
(HNX) do phụ nữ nắm quyền tổng giám đốc, và đây là tỉ lệ cao nhất trên thế
giới.
Tiến bộ cũng chậm chạp trong lĩnh vực lương thưởng. Năm 1970, phụ
nữ Mỹ nhận được 59 xu so với một đô là mà nam giới nhận được với công
việc tương đương. Đến năm 2010, phụ nữ đã phản đối, đấu tranh, làm mọi
cách để nâng con số này lên thành 77 xu. Nhà hoạt động xã hội Marlo
Thomas đã châm biếm trong Ngày trả lương bình đẳng 2011, "Bốn mươi
năm và mười tám xu. Một chục trứng đã tăng giá bằng cả chục lần số tiền
này". Tại Châu Âu, phụ nữ trung bình nhận được ít hơn 16% so với đồng
nghiệp nam ngang hàng. Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, khoảng cách
lương do giới tại Việt Nam đã ngày càng rộng hơn trong vài thập niên gần
đây. Tỉ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia lực lượng lao động là 72%, nhưng họ
có thu nhập ít hơn 20-30% so với nam giới.
Tôi đã chứng kiến những sự kiện đáng buồn này từ hàng ghế đầu. Tôi
tốt nghiệp đại học năm 1991 và tốt nghiệp trường kinh doanh năm 1995.
Trong những công việc căn bản sau khi tốt nghiệp, đồng nghiệp của tôi
thường cân bằng có cả nam lẫn nữ. Tôi nhận thấy lãnh đạo cấp cao thường
hầu như chỉ toàn là nam, nhưng tôi nghĩ đó là do hệ quả của một quá khứ
phân biệt đối xử với phụ nữ. Cách so sánh ẩn dụ về tấm trần bằng kính đã bị
phá vỡ trong hầu hết các ngành kinh doanh, và tôi tin rằng chỉ còn là vấn đề
thời gian đến khi thế hệ của tôi sẽ xâm chiếm giành lấy vai trò lãnh đạo.
Nhưng cứ mỗi năm trôi qua, số đồng nghiệp là nữ ngày càng giảm. Rất
thường xuyên, tôi trở thành người phụ nữ duy nhất trong phòng.
Là người phụ nữ duy nhất tôi gặp phải nhiều tình huống khó xử nhưng
cũng mở mắt cho tôi rất nhiều. Hai năm sau khi gia nhập Facebook trong vai
trò Giám đốc hoạt động, người giữ chức vụ Giám đốc tài chính đột ngột rời
công ty, và tôi phải nhảy vào hoàn tất công việc kêu gọi đầu tư. Tôi khởi đầu
sự nghiệp của mình từ mảng vận hành, chứ không phải là tài chính, nên quy
trình kêu gọi đầu tư đối với tôi khá mới mẻ và cũng có chút đáng sợ. Tôi
cùng nhóm làm việc bay đến New York để trình bầy trước các công ty quỹ
tư nhân. Cuộc họp đầu tiên diễn ra trong một phòng họp giống như bạn
thường thấy trên phim ảnh, đầy đủ đến tận chi tiết toàn cảnh Mahattan. Tôi
trình bầy thông tin chung về công ty và trả lời các câu hỏi. Nhìn chung cũng
ổn. Sau đó mọi người đề nghị giải lao ít phút. Tôi quay sang vị Phó Tổng
Giám đốc cấp cao và hỏi thăm nhà vệ sinh dành cho nữ. Ông nhìn tôi trâng
trâng. Câu hỏi của tôi đã đặt ông vào một tình thế khó xử. Tôi hỏi, "Ông làm
ở đây bao lâu rồi?" Và ông trả lời, "Một năm." "Tôi là người phụ nữ duy
nhất từng đặt chân vào văn phòng này để trình bày trong suốt một năm qua
hay sao?" "Tôi nghĩ thế," ông nói thêm, "hay cũng có thể cô là người duy
nhất có nhu cầu sử dụng nhà vệ sinh."
Tôi đã gia nhập lực lượng lao động được hơn hai thập niên, nhưng mọi
thứ vẫn không thay đổi. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức được rằng cuộc
cách mạng đã chựng lại rồi. Lời hứa đạt bình đẳng chưa phải là bình đẳng.
Một thế giới thật sự bình đẳng là nơi phụ nữ nắm quyền tại một nửa số
quốc gia trên thế giới, tại một nửa số công ty trên thế giới, và nam giới phải
lo vun vén cho một nửa số gia đình trên thế giới. Tôi tin rằng thế giới này sẽ
tốt đẹp hơn. Các định luật kinh tế và những nghiên cứu về đa dạng cho thấy
nếu chung ta phát huy được hết nguồn nhân lực và tài lực, tổng hiệu năng sẽ
được cải thiện. Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett từng tuyên bố một
cách tự hào rằng một trong những lý do giúp ông thành công rực rỡ là ông
chỉ phải cạnh tranh với một nửa thế giới. Những vị Warren Bufett trong thế
hệ của tôi vẫn còn đang tận hưởng lợi thế này. Khi càng có nhiều người tham
gia vào cuộc đua, càng có nhiều kỷ lục bị phá vỡ. Và thành tựu khi đó không
chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho tất cả chúng ta.
Đêm trước khi Leymah Gbowee đoạt giải Nobel Hòa bình năm 2011 vì
đã dẫn dắt phụ nữ đấu tranh góp phần lật đổ nhà độc tài Liberia, bà có mặt
tại bữa tiệc sách ở nhà tôi. Chúng tôi ăn mừng xuất bản quyển tự truyện của
bà , "Mighty be Our Powers", nhưng đó là một bữa tiệc buồn. Một vị khách
hỏi bà liệu phụ nữ Mỹ có thể làm gì để giúp những người đã trải qua kinh
hoàng hay bị cưỡng hiếp tập thể tại những nơi như Liberia. Câu trả lời của
bà đơn giản chỉ có năm chữ "Phụ nữ phải nắm quyền". Leymah và tôi là hai
người đến từ hai thế giới hoàn toàn khác nhau, nhưng chúng tôi có chung
một kết luận. Điều kiện dành cho phụ nữ sẽ được cải thiện khi có thêm nhiều
phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo, cất lên tiếng nói mạnh mẽ và quyền lực đòi
hỏi đáp ứng nhu cầu và giải quyết quan ngại của mình.
Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi khác - bằng cách nào? Làm thế
nào chúng ta gỡ bỏ những rào cản đang ngăn trở phụ nữ không được lên cao
hơn? Phụ nữ phải đối mặt với nhiều rào cản rõ ràng trong công việc, bị phân
biệt đối xử lộ liễu hay tinh vi, bị quấy rối tình dục. Không nhiều nơi làm việc
cho phép phụ nữ chọn giờ làm việc linh động, cung cấp dịch vụ giữ trẻ, hay
cho phép cho mẹ được nghỉ phép nhiều hơn để vừa theo đuổi sự nghiệp vừa
nuôi dậy con cái. Nam giới dễ dàng tìm được người đỡ đầu, một yếu tố rất
quan trọng nếu muốn tiến bộ trong sự nghiệp. Ngoài ra, phụ nữ còn phải
chứng tỏ mình có giá trị cao hơn nhiều so với nam giới. Và việc này không
chỉ diễn ra trong suy nghĩ. Khảo sát năm 2011 của McKinsey ghi nhận nam
giới thăng tiến dựa trên tiềm năng, trong khi phụ nữ thăng tiến dựa trên
thành tích đã đạt được.
Bên cạnh những rào cản bên ngoài do xã hội dựng lên, phụ nữ còn bị
ngăn cản bởi hàng rào bên trong chính bản thân họ. Chúng ta tự giữ chân
mình theo cách này hay cách khác, do thiếu tự tin, do không dám giơ tay, và
tự kéo mình về phía sau trong khi đáng lẽ phải tiến về phía trước. Chúng ta
tiếp thu những thông điệp tiêu cực đến với mình trong cuộc đời - những
thông điệp cho rằng chúng ta không nên lớn tiếng, hùng hổ, thể hiện uy
quyền hơn nam giới. Chúng ta tự hạ thấp kỳ vọng về khả năng của mình.
Chúng ta vẫn tiếp tự giành lấy công việc nội trợ và chăm sóc con cái. Chúng
ta chấp nhận hạ thấp mục tiêu sự nghiệp của mình để nhường chỗ cho người
bạn đời và con cái thậm chí còn chưa chào đời. So với các đồng nghiệp nam
giới, không nhiều phụ nữ tham vọng đạt đến các chức vụ cao. Đây không
phải là danh sách của các phụ nữ khác. Bản thân tôi cũng đã phạm tất cả mọi
sai lầm trong danh sách này. Đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn thế.
Lập luận của tôi là phải loại bỏ những rào cản bên trong này thì mới có
thể thu tóm quyền lực. Người khác thì tranh luận rằng phụ nữ chỉ có thể nắm
quyền khi các rào cản thể chế biến mất. Đây rõ ràng là tình huống con gà và
quả trứng. Con gà: Phụ nữ sẽ phá vỡ các rào cản bên ngoài khi chúng ta nắm
giữ vai trò lãnh đạo. Chúng ta sẽ tiến thẳng vào văn phòng các ông sếp và
đòi hỏi những gì chúng ta cần, kể cả chỗ đậu xe ưu tiên khi mang thai. Hay
tốt hơn nữa, chúng ta trở thành sếp lớn và đảm bảo tất cả phụ nữ đều được
hưởng những gì họ cần. Quả trứng: Chúng ta cần loại bỏ các rào cản bên
ngoài để có thể tiến đến vị trí này. Cả hai đều đúng, Do đó, thay vì tranh luận
về triết lý xem con gà hay quả trứng có trước, chúng ta hãy cùng thống nhất
sẽ đấu tranh theo cả hai hướng. Cả hai hướng đều quan trọng như nhau. Tôi
khuyến khích phụ nữ giải quyết vấn đề theo hướng con gà, nhưng tôi cũng
hoàn toàn ủng hộ những người chọn hướng quả trứng.
Rào cản bên trong hiếm khi được thảo luận và thường bị đánh giá
không quan trọng. Trong suốt cuộc đời mình, tôi thường xuyên được nghe kể
về những bất công trong văn phòng và khó khăn khi phải đảm đương sự
nghiệp và gia đình. Tuy nhiên, tôi hiếm khi nghe kể về những kềm hãm tôi
có thể tự gây ra cho mình. Những rào cản bên trong này xứng đáng được
quan tâm nhiều hơn, một phần vì chúng ta hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát
của chúng ta. Chúng ta có thể dẹp ngay những rào cản bên trong con người
mình ngay hôm nay. Chúng ta có thể bắt đầu ngay lập tức.
Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết sách. Tôi không phải là một học
giả, hay nhà báo, hay nhà xã hội học. Nhưng tôi quyết định sẽ lên tiếng sau
khi trò chuyện với hàng trăm phụ nữ, lắng nghe những nhọc nhằn của họ,
chia sẻ những nhọc nhằn của riêng tôi, và nhận thấy những gì chúng tôi đạt
được vẫn chưa đủ và có nguy cơ vuột khỏi tay. Chương đầu tiên trong quyển
sách này đặt ra những thách thức phức tạp mà phụ nữ phải đối mặt. Các
chương tiếp theo chú trọng đến sự điều chỉnh hay thay đổi mà chúng ta có
thể tự thực hiện: tăng mức độ tự tin ("Ngồi vào bàn"), yêu cầu bạn đời làm
việc nhà nhiều hơn ("Bạn đời phải thật sự là bạn đời"), không tự đặt ra cho
mình những tiêu chuẩn không thể đạt được ("Hoang tưởng về những người
đa năng"). Tôi không dám tuyên bố mình có giải pháp hoàn hảo đối với vấn
đề sâu sắc và phức tạp như thế này. Tôi chỉ trình bày dữ liệu trung thực,
nghiên cứu khoa học, quan sát từ bản thân, và những bài học tôi đã tích lũy.
Đây không phải là một quyển hồi ký, mặc dù tôi có đưa vào những câu
chuyện về cuộc đời mình. Đây cũng không phải là sách tự hoàn thiện bản
thân, mặc dù tôi thật lòng mong muốn nó sẽ giúp ích cho bạn. Đây cũng
không phải là quyển sách về quản trị sự nghiệp, mặc dù tôi có đưa ra một số
lời khuyên về lĩnh vực này. Đây cũng không phải là một tuyên ngôn nữ
quyền - cho dù, nó cũng có hơi hướm của tuyên ngôn nữ quyền, nhưng tôi
hy vọng nó sẽ tạo cảm hứng cho cả hai giới nam lẫn nữ.
Dù dưới hình thức nào, tôi viết quyển sách này cho bất cứ phụ nữ nào
muốn gia tăng cơ hội đạt vị trí tối cao trong lĩnh vực của mình hay mong
muốn theo đuổi hết mình mục tiêu cuộc đời. Bất cứ phụ nữ nào đang ở bất
cứ giai đoạn nào trong cuộc đời hay sự nghiêp, từ người chỉ mới bắt đầu đến
người đang tạm nghỉ và muốn tìm cách quay lại. Tôi cũng viết cho một bộ
phận nam giới muốn tìm hiểu những khó khăn mà phụ nữ phải đối mặt những người là đồng nghiệp, vợ, mẹ, hay con gái của họ - để từ đó góp phần
xây dựng một thế giới bình đẳng.
Quyển sách này cổ vũ phụ nữ thẳng tiến, có tham vọng theo đuổi mục
tiêu của mình. Và mặc dù tôi tin rằng gia tăng số lượng phụ nữ nắm giữ
quyền lực là một yếu tố thiết yếu để đảm bảo bình đẳng thật sự, tôi không
cho rằng chỉ có một định nghĩa duy nhất về thành công hay hạnh phúc.
Không phải phụ nữ nào cũng muốn theo đuổi sự nghiệp. Không phải phụ nữ
nào cũng muốn con cái. Không phải phụ nữ nào cũng muốn toàn vẹn cả đôi.
Tôi không bao giờ hô hào chúng ta phải cùng chung mục đích. Nhiều người
không quan tâm đến quyền lực, không phải vì họ không có tham vọng, mà vì
họ đang sống cuộc đời đúng như họ mong muốn. Có những đóng góp rất
quan trọng cho thế giời này đến từ việc quan tâm chăm sóc cho riêng từng
người. Chúng ta mỗi người đều phải tự thiết lập con đường riêng của mình
và xác định mục tiêu cuộc đời sao cho phù hợp với cuộc sống, giá trị, và ước
mơ của mình.
Tôi cũng hiểu phần lớn phụ nữ vẫn phải vất vả lo cho cuộc sống và
chăm sóc gia đình. Quyển sách này có những phần phù hợp hơn với những
phụ nữ may mắn có quyền chọn lựa làm bao nhiêu, làm khi nào, và làm ở
đâu; và cũng có những phần áp dụng được cho mọi tình huống mà phụ nữ
đối mặt mỗi ngày trong công việc, trong cuộc sống, và trong gia đình. Nếu
chúng ta thành công trong việc đưa tiếng nói phụ nữ ngày càng nhiều hơn ở
các cấp cao hơn, chung ta sẽ mở rộng thêm cơ hội và đối xử bằng cho tất cả
mọi người.
Một số người, đặc biệt là phụ nữ trong giới kinh doanh, đã cảnh báo tôi
về việc công khai tuyên bố những vấn đề này. Khi tôi vẫn cứ lên tiếng, mặc
dù nhiều nhận xét của tôi làm bất bình người trong cả hai giới. Tôi biết một
số người tin rằng khi nhấn mạnh rằng phụ nữ có thể tự thay đổi mình - thúc
giục họ tiến tới - có vẻ như tôi đang làm đảo lộn trật tự thế giới. Hay tệ hơn,
họ kết tội tôi đổ lỗi cho nạn nhân, thay vào đó, tôi tin rằng phụ nữ lãnh đạo
chính là chìa khóa giải quyết vấn đề. Một số nhà phê bình cũng chỉ ra rằng
đối với tôi việc tiến tới là quá đơn giản, vì tôi có nguồn tài chính sẵn sàng hỗ
trợ các nhu cầu của mình. Mục đích của tôi là chia sẻ những lời khuyên hữu
ích ngay ...
Tác giả: Sherryl Sandberg, Nell Scovell
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Năm xuất bản: 03 – 2014
Khổ sách: 13 x 20 cm
Số trang: 352
Typing: linhngoc2601@TVE-4U.org
Tạo ebook: NQS
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI TỰA CỦA BÀ TÔN NỮ THỊ NINH
GIỚI THIỆU Tiếp thu nền cách mạng
CHƯƠNG I Khoảng trống tham vọng lãnh đạo
CHƯƠNG 2 Ngồi vào bàn
CHƯƠNG 3 Thành công và yêu quý
CHƯƠNG 4 Khung leo trèo thay thế chiếc thang
CHƯƠNG 5 Bạn có phải cố vấn của tôi
CHƯƠNG 6 Tìm sự thật và nói lên sự thật
CHƯƠNG 7 Đừng tử bỏ trước khi chính thức rút lui
CHƯƠNG 8 Bạn đời phải thật sự là bạn đời
CHƯƠNG 9 Hoang tưởng về người đa năng
CHƯƠNG 10 Hãy bắt đầu thảo luận
CHƯƠNG 11 Chung tay vì một thế giới bình đẳng
HÃY TIẾP TỤC TRÒ CHUYỆN...
LỜI CẢM ƠN
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
CHÚ THÍCH
LỜI TỰA CỦA BÀ TÔN NỮ THỊ
NINH
NGUYÊN Đại sứ Việt Nam tại Liên minh Châu Âu và Bỉ; Nguyên Phó
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội
Kể từ hoạt động đối ngoại đầu tiên của tôi khi cùng Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam tham gia Hội nghị Quốc tế của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Thế
giới ở Berlin, Đông Đức năm 1975, tôi đã có "duyên nợ" với sự nghiệp nữ
quyền. Nữ quyền là câu chuyện chung xuyên lục địa và xuyên thế hệ. Đó là
lý do vì sao tôi nhận lời viết phần giới thiệu cho bản tiếng Việt của tác phẩm
Lean In - Dấn thân. Mặt khác, chúng ta đều biết Sheryl Sandberg, cái tên đã
trụ vững trong danh sách 50 người phụ nữ quyền lực nhất thế giới của tạp chí
Fortune trong suốt 4 năm qua, do đó trước khi đọc quyển sách này, tôi có
phần e ngại nó chỉ tạo được sự đồng cảm từ phía một số ít những phụ nữ
may mắn nhất - những người vốn dĩ đã vươn lên được đến đỉnh cao trong sự
nghiệp.
Thế nhưng khi đọc xong quyển sách, tôi có thể khẳng định rằng Dấn
thân hướng đến hầu hết mọi độc giả và kể một câu chuyện gần gũi, tương
đồng với những khó khăn, phấn đấu và cảm xúc hàng ngày của đa số phụ nữ,
bất kể họ ở địa vị nào. Tôi đồng tình với hai nhận xét thẳng thắn của tác giả
cuốn sách: " Sự thật thẳng thừng là đàn ông vẫn đang lãnh đạo thế giới" ' và
"Cuộc cách mạng (đòi hỏi bình đẳng giới) của chúng ta đã chựng lại rồi".
Tác giả của cuốn Dấn thân không hề tìm cách quảng bá hình ảnh cá nhân
mình; thay vào đó, cô đã chuyển tải thông điệp mạnh mẽ về bình đẳng giới
một cách giản dị, mọi người đều có thể chia sẻ. Vượt qua ranh giới quốc gia,
văn hóa, Sheryl Sandberg đã "nói" được câu chuyện Nữ quyền một cách
rộng rãi cho phụ nữ các tầng lớp, và dễ dàng đi vào tâm trí của cả nam giới.
Lean in - Dấn thân là tinh thần mà Sheryl Sandberg muốn kêu gọi:
từng phụ nữ hãy vươn lên phát triển tiềm năng, phát huy đầy đủ nhất khả
năng của mình, tránh lối tư duy và tinh thần yên vị vốn đã ăn sâu trong tâm
thức phụ nữ. Quyền lực của người phụ nữ không phải là tham vọng tìm kiếm
những đặc lợi của quyền lực cứng, mà là sự nỗ lực tạo quyền năng cho bản
thân dựa vào nội lực và giá trị cốt lõi của mỗi cá nhân và từ đó lan tỏa ảnh
hưởng. Sheryl Sandberg nhắn nhủ chúng ta: Phụ nữ hãy dám ngồi vào bàn
lãnh đạo.
Đồng thời, Sheryl cũng thừa nhận rằng chúng ta không chỉ nên "phá"
trần, mà phải nâng cả mức sàn. Ý của cô là cần cùng lúc khuyến khích ngày
càng nhiều lãnh đạo nữ xuất hiện và quan tâm đến quyền lợi số đông phụ nữ.
Ở Việt Nam, tôi lại thấy có xu hướng chú ý nâng sàn nhiều hơn. Đương
nhiên để giải quyết được cả hai đòi hỏi này đặt bài toán con gà - quả trứng:
thay đổi thể chế, hoàn cảnh trước - hay thay đổi trong tự thân người phụ nữ
(suy nghĩ, thái độ, tâm lý,...)trước. Hiển nhiên câu trả lời sẽ là: cần thay đổi
cả hai cùng một lúc, vì cả hai quá trình đều cần thiết và hỗ trợ lẫn nhau. Tuy
nhiên, tác giả cũng đặt vấn đề rõ ràng rằng quyển sách này tập trung vào việc
thay đổi tư duy và hành vi của phụ nữ.
Tôi thấy có một số điểm "gặp nhau" thú vị bất kể sự khác biệt văn hóa,
kinh tế - xã hội giữa hai đất nước: Mỹ và Việt Nam. Nổi trội nhất là những
nhìn nhận rập khuôn gần như phổ quát về tính chất và vai trò của nam và nữ.
Những rập khuôn đó là sự kềm hãm đối với phụ nữ. Tại Việt Nam, việc ca
ngợi những đức tính truyền thống của phụ nữ đôi khi khiến người phụ nữ trở
thành tù binh trong chính lâu đài được dát vàng của mình. Nói đến phụ nữ,
người ta thường đề cao sự dịu hiền, nặng tình cảm, tinh thần hy sinh...:điệp
khúc đó âm thầm "bài trừ" những người phụ nữ hành xử khác với những
chuẩn mực ấy và hàm ý họ thiếu nữ tính. Tôi không thuộc tuýp phụ nữ dịu
hiền, nhưng tôi tin tưởng rẳng tôi rất nữ tính. Thực chất, tôi nhận thấy sự rập
khuôn đó là một dạng"định kiến ngọt ngào" kìm hãm sự phát triển của nữ
giới.
Dù tại Việt Nam, Hoa Kỳ hay nơi nào khác trên thế giới, phụ nữ khi đã
tham gia công việc xã hội luôn đứng trước thách thức phải cân đối nhiệm vụ
gia đình - sự nghiệp. Liệu việc kêu gọi phụ nữ "giỏi việc nước, đảm việc
nhà" theo cách truyền thống có chất thêm gánh nặng cho phụ nữ? Tôi thấy
lời kêu gọi này thiếu công bằng, lỗi thời. Chính vì vậy tôi thấy rất mừng khi
được nghe một đấng nam giới - Giáo sư Tô Duy Hợp, Giám đốc Trung tâm
Khoa học Tư duy - lên tiếng phản đối việc áp đặt khẩu hiện phụ nữ "giỏi
việc nước, đảm việc nhà". Ông cho rằng phải là cả đàn ông và phụ nữ cùng
giỏi việc nước, đảm việc nhà. Nói cách khác phụ nữ nên thoát khỏi sự ám
ảnh phải vươn tới một sự hoàn hảo phi lý do xã hội áp đặt. Thay vào đó, phụ
nữ hay phấn đấu phát huy hết tiềm năng, và đạt đến sự toại nguyện bền
vững.
Tôi cũng từng có lúc bị vướng phải sự cầu toàn như vậy. Thời đó dù
rất bận rộn công việc và hoạt động xã hội, tôi mất nhiều thời gian cho việc tự
tay dọn dẹp sửa soạn nhà cửa sạch sẽ tinh tươm và hoàn toàn ngăn nắp, thời
gian mà lẽ ra tôi có thể dành cho bản thân. Cho đến một ngày, tình cờ tôi đọc
được trên tạp chí Time bài viết của một nữ doanh nhân. Bà kể bà đã tự giải
thoát khỏi khát khao muốn làm cho nhà cửa luôn bóng lộn như khách sạn 5
sao, và ngày nay bà cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều và thật sự hưởng thụ
cuộc sống gia đình êm dịu trong một căn nhà ít ngăn nắp hơn. Kể từ đó tôi
đã giải phóng cho mình khỏi loại áp lực cầu toàn đó.
Một sự thật khác xuyên biên giới cũng được Sheryl nêu ra là sự mong
muốn của phần lớn phụ nữ được mọi người quý mến yêu thích. Có một thực
tế là: đàn ông thành công thường được cả hai giới yêu thích, nhưng phụ nữ
thành công thường không được chị em yêu thích. "Học cách chống chọi với
chỉ trích là điều cần thiết cho phụ nữ". Theo tôi, khi bị chỉ trích, chúng ta cứ
tự tại, việc mình mình bình tĩnh làm, tự tin tiếp tục con đường đã chọn.
Sheryl còn cho rằng phụ nữ thành công thường ngại lên tiếng cho
quyền lợi của giới. Thay vì nói lên tiếng nói phụ nữ đối với nam giới, họ lại
thường tự chế ngự cảm xúc bản thân để tìm cách hòa đồng với môi trường
làm việc do nam giới chi phối. Kỳ thực những phụ nữ này không nhận ra
rằng cảm xúc giữ vai trò thúc đẩy, tác động tới quyết định của cả nam giới,
chứ không chỉ riêng của phụ nữ. Rập khuôn máy móc: Đàn ông - Lý trí, Phụ
nữ - Cảm xúc cơ bản là không đúng thực tế. Cả phụ nữ và nam giới cần phải
thoát khỏi kiểu nhận thức đóng khung xưa cũ đó.
Bên cạnh nhiều điểm tương đồng, cũng có những khác biệt trong tình
hình bình đẳng giới của Việt Nam và Hoa Kỳ. Một khác biệt lớn là tuổi nghỉ
hưu chênh lệch giữa nam giới (60) và phụ nữ (55). Vốn được xem là chính
sách ưu tiên cho phụ nữ ở Việt Nam trong những năm 1960, chủ trương này
đã áp đặt một "bức trần về tuổi" đối với cơ hội cho phụ nữ được bồi dưỡng
nâng cao nghiệp vụ và đề bạt, gây lãng phí năng lực và tài năng tại các cơ
quan. Mặt khác, tôi tin rằng cần tránh quan điểm giản đơn, trắng - đen trong
bình đẳng giới, không phải cái gì cũng phải máy móc 50- 50 giữa hai giới.
Như tác giả đã khẳng định phụ nữ phải hưởng cơ hội theo đuổi nghề nghiệp
"phi truyền thống" (đối với phụ nữ) nhưng không nên chạy theo định mức áp
đặt nhân danh bình đẳng giới.
Việt Nam còn phải phấn đấu mới đạt được mức tiến bộ như một số
nước ở Bắc Âu - có cả chính sách cho người cha nghỉ để chăm con. Tuy
nhiên Việt Nam đã có bước tiến như nâng thời gian cho phụ nữ nghỉ thai sản
lên 06 tháng. Tôi ngạc nhiên về tâm lý phụ nữ trong giới quản lý lãnh đạo ở
Mỹ thường ngần ngại tận hưởng chính sách bảo hiểm xã hội. Bản thân
Sheryl Sandberg khi sinh con cũng phải "lén lút" khi muốn rời văn phòng
vào 5h chiều, hầu như vì mặc cảm là muốn dành đủ thời gian cho gia đình.
Một khác biệt nữa là lời khẳng định của Sheryl rằng ở Mỹ, cô không
biết phụ nữ nào là lãnh đạo thành công mà chồng không ủng hộ. Điểm này
có thể do đàn ông Mỹ sẵn lòng tham gia công việc gia đình hơn. Tại Việt
Nam, hình như dư luận xã hội vẫn cho rằng phụ nữ thành đạt thường gặp khó
khăn trong việc giành được sự ủng hộ của chồng và duy trì hạnh phúc gia
đình. Thế nên tôi đồng tình với Sheryl Sandberg rằng quyết định then chốt
nhất đối với hạnh phúc phụ nữ là lựa chọn người bạn đời: đó phải là sự lựa
chọn đúng đắn, đã chọn thì phải chọn "trúng".
Không thể không đề cập khía cạnh ảnh hưởng của lịch sử và văn hòa
đối với bình đẳng giới. So với các nước Đông Bắc Á như Nhật, Hàn
Quốc...thì Việt Nam có truyền thống dân chủ hơn và ít gia trưởng hơn. Tôi
nghĩ có một phần do truyền thống của những nữ anh hùng lịch sử như Bà
Trưng, Bà Triệu...; cũng như việc phụ nữ tích cực làm ruộng, tư duy văn hóa
bình đẳng trong dân gian như "đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng
cạn,"...đã tạo nên những giá trị bình đẳng giới của phụ nữ Việt Nam. Phải
nói rẳng trong hoạn nạn, chiến tranh, thiên tai, phụ nữ đóng một vai trò quan
trọng. Thế nhưng đồng thời tôi cho rằng để có bình đẳng giới, phải thay đổi
tư duy, thái độ, hành xử của đàn ông chứ không chỉ nữ giới, vì di sản văn
hóa phong kiến còn ảnh hưởng khá nhiều trong tâm trí đàn ông Việt.
Phụ nữ càng lên cao càng phải thể hiện trách nhiệm với đồng đội nữ và
thế hệ phụ nữ đi sau. Việc có một người phụ nữ đứng đầu thôi chưa đủ: tại
một số nước Châu Á, Tổng thống hoặc Thủ tướng có thể là phụ nữ, nhưng
họ thường là những phụ nữ xuất thân từ những gia tộc chính trị hoặc thuộc
tầng lớp thượng lưu, ít đại diện cho tiếng nói của số đông phụ nữ.
Tôi rất tán thành với Sheryl Sandberg rằng:"Những thành quả xã hội
không bao giờ là thứ được ban cho, mà chúng ta phải giành lấy chúng." Tôi
còn muốn nhấn mạnh thêm là những thành tựu phải liên tục được đề cao,
củng cố, và phát huy tiếp. Chúng ta không thể tự mãn khoanh tay. Có thể lấy
Việt Nam làm ví dụ: Việt Nam dù đã đi trước trong số các nước đang phát
triển trong vấn đề bình đẳng giới (là một trong những nước đầu tiên đưa vấn
đề bình đẳng giới vào hiến pháp), tỉ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội đạt 27,3%
trong Nhiệm kỳ XI (2002-2007) mà tôi tham gia Quốc hội, nhưng đến kì bầu
cử 2011 tỉ lệ đó đã tụt xuống 24,4 %.
Sheryl Sandberg tin rằng:"Một thế giới thật sự bình đẳng là nơi mà
phân nửa các thể chế sẽ do phụ nữ lãnh đạo và phân nửa các gia đình do đàn
ông lãnh đạo...Điều đó sẽ mang lại một thế giới tốt đẹp hơn." Về điểm này,
tôi muốn nói lại hơi khác:"...và tất cả các gia đình chúng ta sẽ được cả nam
và nữ đồng lãnh đạo. Vợ-chồng, cha-mẹ cùng chia sẻ, hợp sức và có trách
nhiệm cùng nhau gầy dựng gia đình."
Để kết thúc phần lời tựa, tôi xin được nói rằng, cũng giống như Sheryl
Sandberg, tôi tự hào và tự tin khi khẳng định tôi là một người phụ nữ phấn
đấu cho bình đẳng giới. Đó là vì chính bản thân chúng ta, vì bao người phụ
nữ khác, vì một thế giới ngày mai tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta - cả nam và
nữ.
GIỚI THIỆU
Tiếp thu nền cách mạng
Mùa hè năm 2004 tôi mang thai đứa con đầu. Lúc đó, tôi đang phụ
trách nhóm bán hàng trực tuyến và vận hành tại Google. Tôi đã gia nhập
công ty được ba năm rưỡi, từ khi nó chỉ là một công ty mới thành lập vô
danh với vài trăm nhân viên làm việc trong một tòa nhà cũ kỹ. Em bé trong
bụng tôi được ba tháng thì Google cũng lớn mạnh thành một công ty có hàng
ngàn nhân viên và dọn vào một khu văn phòng phức hợp.
Giai đoạn mang thai của tôi cũng không mấy nhẹ nhàng. Chứng ốm
nghén thường gặp trong ba tháng đầu vẫn tiếp diễn với tôi suốt chín tháng
liền. Tôi tăng gần 16 ký, chân thì phù nề tăng thêm hai số, to như hai tảng
thịt mà tôi chỉ có thể nhìn thấy nếu gác chân lên bàn. Một kỹ sự "đặc biệt
nhạy cảm" tại Google đã tuyên bố đặt tên cho một dự án là "Dự án cá voi" để
tôn vinh tôi.
Một lần, sau khi buổi sáng mệt mỏi ngồi trong nhà vệ sinh, tôi phải
chạy vội đến văn phòng tham dự một cuộc họp với khách hàng. Google đang
lớn lên từng ngày khiến chỗ đậu xe trở thành vấn đề, và tôi chỉ tìm được một
chỗ đậu xe nằm khá xa. Tôi hối hả băng qua bãi đậu xe, nói vậy chứ thực tế
là tôi chỉ ráng lết nhanh hơn so với tốc độ rùa bò bình thường của một bà
bầu. Nhưng như thế cũng đủ làm cho cơn ốm nghén thêm nặng nề, và tôi
phải cầu nguyện trong cuộc họp này không có gì khác ngoài bài trình bày
được phát ra từ miệng tôi. Tối đó, tôi kể lại câu chuyện cho chồng nghe.
Dave, chồng tôi, cho biết tại Yahoo, nơi anh đang làm việc, người ta chỉ định
chỗ đậu xe dành riêng cho các bà mẹ mang thai ngay trước cổng vào văn
phòng.
Ngày hôm sau, tôi hùng hổ xông vào - hay đúng hơn là ì ạch lê vào tìm gặp hai nhà sáng lập Google là Larry Page và Sergey Brin trong phòng
làm việc, thực tế chỉ là một căn phòng lớn có đồ chơi và các thiết bị công
nghệ nằm lăn lóc trên sàn. Sergey đang ngồi trong góc tập Yoga. Tôi lên
tiếng rằng công ty cần có chỗ đậu xe ưu tiên cho bà mẹ mang thai, càng sớm
càng tốt. Anh ngẩng đầu lên nhìn tôi và đồng ý ngay lập tức, còn nói thêm
rằng tại sao anh không nghĩ đến sớm hơn.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn ái ngại là mình không nhận ra nhu cầu của
bà mẹ mang thai cần có chỗ đậu xe ưu tiên cho đến khi chính bản thân mình
mang thai. Tôi là một trong những phụ nữ giữ chức vụ cao tại Google, đáng
lý ra tôi phải có trách nhiệm suy nghĩ về những vấn đề như thế này. Nhưng
cũng như với Sergey, nó chưa bao giờ xuất hiện trong đầu tôi. Những phụ nữ
mang thai khác đã phải chịu đựng trong im lặng, không dám lên tiếng đòi hỏi
quyền lợi. Cũng có thể họ thiếu tự tin hay không có thẩm quyền để giải
quyết vấn đề. Một phụ nữ mang thai nắm giữ vị trí cao - cho dù người phụ
nữ này có hình dạng như cá voi đi nữa - cũng góp phần tạo ra nhiều thay đổi.
Hiện nay, tại Mỹ, Châu Âu, và nhiều nơi khác trên thế giới, đời sống
của phụ nữ đã được cải thiện rất nhiều. Chúng ta đứng trên đôi vai của
những phụ nữ đi trước, họ đã đấu tranh cho những quyền mà chúng ta
nghiễm nhiên cho rằng mình được hưởng. Năm 1947, Anita Summers, mẹ
của Larry Sumers, người đỡ đầu cho tôi, được tuyển dụng vào Công ty
Standard Oil. Khi bà nhận lời đi làm, sếp của bà nói, "Tôi thật mừng là cô
nhận lời. Tôi nghĩ rằng mình được lợi khi trả tiền ít hơn cho bộ não tương
đương." Phản ứng của bà là cảm thấy thật vinh hạnh. Đây là lời khen tặng
thật xứng đáng khi người ta đánh giá bà có bộ não tương đương nam giới. Bà
không bao giờ nghĩ rằng mình phải đòi hỏi được trả lương tương xứng.
Chúng ta càng phải biết ơn cuộc đời này nhiều hơn khi tự so sánh với
những phụ nữ khác trên thế giới. Vẫn còn nhiều quốc gia từ chối công nhận
quyền cơ bản của phụ nữ. Trên toàn thế giới, có khoảng 4,4 triệu bé gái và
phụ nữ bị giam cầm trong ngành công nghiệp tình dục. Tại các quốc gia như
Afghanistan và Sudan, các bé gái thường không được đi học hay đọc rất ít,
người vợ bị xem là tài sản của người chồng, và phụ nữ bị cưỡng hiếp bị ném
ra khỏi nhà vì làm ô nhục gia đình. Một số nạn nhân của cưỡng hiếp còn bị
cho vào tù vì "vi phạm đạo lý". Chúng ta đang đi trước hàng thế kỷ so với
cách đối xử không thể chấp nhận được tại các quốc gia này.
Nhưng biết rằng tình hình có thể tệ hơn không có nghĩa là chúng ta
không nên cố gắng cải thiện nó. Khi phụ nữ tuần hành trên đường đòi quyền
bầu cử, họ nghĩ đến một thế giới trong đó nam nữ thực sự bình quyền. Một
thế kỷ sau, chúng ta vẫn còn đang nheo mắt tìm cách đưa triển vọng này hiện
ra rõ hơn.
Sự thật thẳng thừng là đàn ông vẫn đang lãnh đạo thế giới. Điều này có
nghĩa là khi đưa ra quyết định có tác động đến chúng ta nhiều nhất, tiếng nói
của phụ nữ không được trân trọng. Trong số 195 quốc gia độc lập trên thế
giới, chỉ có 17 nước do phụ nữ lãnh đạo. Phụ nữ chỉ nắm giữ khoảng 20% số
ghế trong quốc hội trên toàn thế giới. Tháng 11/2012, trong cuộc bầu cử tại
Mỹ, lần đầu tiên phụ nữ chiếm được nhiều ghế trong quốc hội, nâng tổng số
lên thành 18%. Tại Việt Nam, có khoảng 24% số ghế trong Quốc hội do phụ
nữ nắm giữ. Tại quốc hội Châu Âu, một phần ba số ghế do phụ nữ nắm giữ.
Các con số này cho thấy không có nơi nào đạt gần đến 50%.
Tỉ lệ phụ nữ nắm giữ vai trò lãnh đạo trong các doanh nghiệp còn thấp
hơn. Chỉ có 4% số tổng giám đốc các công ty trong danh sách Fortune 500 là
phụ nữ. Tại Mỹ, phụ nữ giữ khoảng 14% các vị trí điều hành và 17% các vị
trí trong hội đồng quản trị, những con số hầu như không nhúc nhích trong
một thập niên qua. Khoảng cách càng rộng hơn đối với phụ nữ da màu, vốn
chỉ chiếm 4% các chức vụ cao cấp trong doanh nghiệp, 3% vị trí trong hội
đồng quản lý, và 5% ghế quốc hội". Trên khắp Châu Âu, phụ nữ nắm giữa
14% vị trí trong hội đồng quản trị. Tại Việt Nam, khoảng 5,23% các công ty
trên sàn chứng khoán tp Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn chứng khoán Hà Nội
(HNX) do phụ nữ nắm quyền tổng giám đốc, và đây là tỉ lệ cao nhất trên thế
giới.
Tiến bộ cũng chậm chạp trong lĩnh vực lương thưởng. Năm 1970, phụ
nữ Mỹ nhận được 59 xu so với một đô là mà nam giới nhận được với công
việc tương đương. Đến năm 2010, phụ nữ đã phản đối, đấu tranh, làm mọi
cách để nâng con số này lên thành 77 xu. Nhà hoạt động xã hội Marlo
Thomas đã châm biếm trong Ngày trả lương bình đẳng 2011, "Bốn mươi
năm và mười tám xu. Một chục trứng đã tăng giá bằng cả chục lần số tiền
này". Tại Châu Âu, phụ nữ trung bình nhận được ít hơn 16% so với đồng
nghiệp nam ngang hàng. Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, khoảng cách
lương do giới tại Việt Nam đã ngày càng rộng hơn trong vài thập niên gần
đây. Tỉ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia lực lượng lao động là 72%, nhưng họ
có thu nhập ít hơn 20-30% so với nam giới.
Tôi đã chứng kiến những sự kiện đáng buồn này từ hàng ghế đầu. Tôi
tốt nghiệp đại học năm 1991 và tốt nghiệp trường kinh doanh năm 1995.
Trong những công việc căn bản sau khi tốt nghiệp, đồng nghiệp của tôi
thường cân bằng có cả nam lẫn nữ. Tôi nhận thấy lãnh đạo cấp cao thường
hầu như chỉ toàn là nam, nhưng tôi nghĩ đó là do hệ quả của một quá khứ
phân biệt đối xử với phụ nữ. Cách so sánh ẩn dụ về tấm trần bằng kính đã bị
phá vỡ trong hầu hết các ngành kinh doanh, và tôi tin rằng chỉ còn là vấn đề
thời gian đến khi thế hệ của tôi sẽ xâm chiếm giành lấy vai trò lãnh đạo.
Nhưng cứ mỗi năm trôi qua, số đồng nghiệp là nữ ngày càng giảm. Rất
thường xuyên, tôi trở thành người phụ nữ duy nhất trong phòng.
Là người phụ nữ duy nhất tôi gặp phải nhiều tình huống khó xử nhưng
cũng mở mắt cho tôi rất nhiều. Hai năm sau khi gia nhập Facebook trong vai
trò Giám đốc hoạt động, người giữ chức vụ Giám đốc tài chính đột ngột rời
công ty, và tôi phải nhảy vào hoàn tất công việc kêu gọi đầu tư. Tôi khởi đầu
sự nghiệp của mình từ mảng vận hành, chứ không phải là tài chính, nên quy
trình kêu gọi đầu tư đối với tôi khá mới mẻ và cũng có chút đáng sợ. Tôi
cùng nhóm làm việc bay đến New York để trình bầy trước các công ty quỹ
tư nhân. Cuộc họp đầu tiên diễn ra trong một phòng họp giống như bạn
thường thấy trên phim ảnh, đầy đủ đến tận chi tiết toàn cảnh Mahattan. Tôi
trình bầy thông tin chung về công ty và trả lời các câu hỏi. Nhìn chung cũng
ổn. Sau đó mọi người đề nghị giải lao ít phút. Tôi quay sang vị Phó Tổng
Giám đốc cấp cao và hỏi thăm nhà vệ sinh dành cho nữ. Ông nhìn tôi trâng
trâng. Câu hỏi của tôi đã đặt ông vào một tình thế khó xử. Tôi hỏi, "Ông làm
ở đây bao lâu rồi?" Và ông trả lời, "Một năm." "Tôi là người phụ nữ duy
nhất từng đặt chân vào văn phòng này để trình bày trong suốt một năm qua
hay sao?" "Tôi nghĩ thế," ông nói thêm, "hay cũng có thể cô là người duy
nhất có nhu cầu sử dụng nhà vệ sinh."
Tôi đã gia nhập lực lượng lao động được hơn hai thập niên, nhưng mọi
thứ vẫn không thay đổi. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức được rằng cuộc
cách mạng đã chựng lại rồi. Lời hứa đạt bình đẳng chưa phải là bình đẳng.
Một thế giới thật sự bình đẳng là nơi phụ nữ nắm quyền tại một nửa số
quốc gia trên thế giới, tại một nửa số công ty trên thế giới, và nam giới phải
lo vun vén cho một nửa số gia đình trên thế giới. Tôi tin rằng thế giới này sẽ
tốt đẹp hơn. Các định luật kinh tế và những nghiên cứu về đa dạng cho thấy
nếu chung ta phát huy được hết nguồn nhân lực và tài lực, tổng hiệu năng sẽ
được cải thiện. Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett từng tuyên bố một
cách tự hào rằng một trong những lý do giúp ông thành công rực rỡ là ông
chỉ phải cạnh tranh với một nửa thế giới. Những vị Warren Bufett trong thế
hệ của tôi vẫn còn đang tận hưởng lợi thế này. Khi càng có nhiều người tham
gia vào cuộc đua, càng có nhiều kỷ lục bị phá vỡ. Và thành tựu khi đó không
chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho tất cả chúng ta.
Đêm trước khi Leymah Gbowee đoạt giải Nobel Hòa bình năm 2011 vì
đã dẫn dắt phụ nữ đấu tranh góp phần lật đổ nhà độc tài Liberia, bà có mặt
tại bữa tiệc sách ở nhà tôi. Chúng tôi ăn mừng xuất bản quyển tự truyện của
bà , "Mighty be Our Powers", nhưng đó là một bữa tiệc buồn. Một vị khách
hỏi bà liệu phụ nữ Mỹ có thể làm gì để giúp những người đã trải qua kinh
hoàng hay bị cưỡng hiếp tập thể tại những nơi như Liberia. Câu trả lời của
bà đơn giản chỉ có năm chữ "Phụ nữ phải nắm quyền". Leymah và tôi là hai
người đến từ hai thế giới hoàn toàn khác nhau, nhưng chúng tôi có chung
một kết luận. Điều kiện dành cho phụ nữ sẽ được cải thiện khi có thêm nhiều
phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo, cất lên tiếng nói mạnh mẽ và quyền lực đòi
hỏi đáp ứng nhu cầu và giải quyết quan ngại của mình.
Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi khác - bằng cách nào? Làm thế
nào chúng ta gỡ bỏ những rào cản đang ngăn trở phụ nữ không được lên cao
hơn? Phụ nữ phải đối mặt với nhiều rào cản rõ ràng trong công việc, bị phân
biệt đối xử lộ liễu hay tinh vi, bị quấy rối tình dục. Không nhiều nơi làm việc
cho phép phụ nữ chọn giờ làm việc linh động, cung cấp dịch vụ giữ trẻ, hay
cho phép cho mẹ được nghỉ phép nhiều hơn để vừa theo đuổi sự nghiệp vừa
nuôi dậy con cái. Nam giới dễ dàng tìm được người đỡ đầu, một yếu tố rất
quan trọng nếu muốn tiến bộ trong sự nghiệp. Ngoài ra, phụ nữ còn phải
chứng tỏ mình có giá trị cao hơn nhiều so với nam giới. Và việc này không
chỉ diễn ra trong suy nghĩ. Khảo sát năm 2011 của McKinsey ghi nhận nam
giới thăng tiến dựa trên tiềm năng, trong khi phụ nữ thăng tiến dựa trên
thành tích đã đạt được.
Bên cạnh những rào cản bên ngoài do xã hội dựng lên, phụ nữ còn bị
ngăn cản bởi hàng rào bên trong chính bản thân họ. Chúng ta tự giữ chân
mình theo cách này hay cách khác, do thiếu tự tin, do không dám giơ tay, và
tự kéo mình về phía sau trong khi đáng lẽ phải tiến về phía trước. Chúng ta
tiếp thu những thông điệp tiêu cực đến với mình trong cuộc đời - những
thông điệp cho rằng chúng ta không nên lớn tiếng, hùng hổ, thể hiện uy
quyền hơn nam giới. Chúng ta tự hạ thấp kỳ vọng về khả năng của mình.
Chúng ta vẫn tiếp tự giành lấy công việc nội trợ và chăm sóc con cái. Chúng
ta chấp nhận hạ thấp mục tiêu sự nghiệp của mình để nhường chỗ cho người
bạn đời và con cái thậm chí còn chưa chào đời. So với các đồng nghiệp nam
giới, không nhiều phụ nữ tham vọng đạt đến các chức vụ cao. Đây không
phải là danh sách của các phụ nữ khác. Bản thân tôi cũng đã phạm tất cả mọi
sai lầm trong danh sách này. Đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn thế.
Lập luận của tôi là phải loại bỏ những rào cản bên trong này thì mới có
thể thu tóm quyền lực. Người khác thì tranh luận rằng phụ nữ chỉ có thể nắm
quyền khi các rào cản thể chế biến mất. Đây rõ ràng là tình huống con gà và
quả trứng. Con gà: Phụ nữ sẽ phá vỡ các rào cản bên ngoài khi chúng ta nắm
giữ vai trò lãnh đạo. Chúng ta sẽ tiến thẳng vào văn phòng các ông sếp và
đòi hỏi những gì chúng ta cần, kể cả chỗ đậu xe ưu tiên khi mang thai. Hay
tốt hơn nữa, chúng ta trở thành sếp lớn và đảm bảo tất cả phụ nữ đều được
hưởng những gì họ cần. Quả trứng: Chúng ta cần loại bỏ các rào cản bên
ngoài để có thể tiến đến vị trí này. Cả hai đều đúng, Do đó, thay vì tranh luận
về triết lý xem con gà hay quả trứng có trước, chúng ta hãy cùng thống nhất
sẽ đấu tranh theo cả hai hướng. Cả hai hướng đều quan trọng như nhau. Tôi
khuyến khích phụ nữ giải quyết vấn đề theo hướng con gà, nhưng tôi cũng
hoàn toàn ủng hộ những người chọn hướng quả trứng.
Rào cản bên trong hiếm khi được thảo luận và thường bị đánh giá
không quan trọng. Trong suốt cuộc đời mình, tôi thường xuyên được nghe kể
về những bất công trong văn phòng và khó khăn khi phải đảm đương sự
nghiệp và gia đình. Tuy nhiên, tôi hiếm khi nghe kể về những kềm hãm tôi
có thể tự gây ra cho mình. Những rào cản bên trong này xứng đáng được
quan tâm nhiều hơn, một phần vì chúng ta hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát
của chúng ta. Chúng ta có thể dẹp ngay những rào cản bên trong con người
mình ngay hôm nay. Chúng ta có thể bắt đầu ngay lập tức.
Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết sách. Tôi không phải là một học
giả, hay nhà báo, hay nhà xã hội học. Nhưng tôi quyết định sẽ lên tiếng sau
khi trò chuyện với hàng trăm phụ nữ, lắng nghe những nhọc nhằn của họ,
chia sẻ những nhọc nhằn của riêng tôi, và nhận thấy những gì chúng tôi đạt
được vẫn chưa đủ và có nguy cơ vuột khỏi tay. Chương đầu tiên trong quyển
sách này đặt ra những thách thức phức tạp mà phụ nữ phải đối mặt. Các
chương tiếp theo chú trọng đến sự điều chỉnh hay thay đổi mà chúng ta có
thể tự thực hiện: tăng mức độ tự tin ("Ngồi vào bàn"), yêu cầu bạn đời làm
việc nhà nhiều hơn ("Bạn đời phải thật sự là bạn đời"), không tự đặt ra cho
mình những tiêu chuẩn không thể đạt được ("Hoang tưởng về những người
đa năng"). Tôi không dám tuyên bố mình có giải pháp hoàn hảo đối với vấn
đề sâu sắc và phức tạp như thế này. Tôi chỉ trình bày dữ liệu trung thực,
nghiên cứu khoa học, quan sát từ bản thân, và những bài học tôi đã tích lũy.
Đây không phải là một quyển hồi ký, mặc dù tôi có đưa vào những câu
chuyện về cuộc đời mình. Đây cũng không phải là sách tự hoàn thiện bản
thân, mặc dù tôi thật lòng mong muốn nó sẽ giúp ích cho bạn. Đây cũng
không phải là quyển sách về quản trị sự nghiệp, mặc dù tôi có đưa ra một số
lời khuyên về lĩnh vực này. Đây cũng không phải là một tuyên ngôn nữ
quyền - cho dù, nó cũng có hơi hướm của tuyên ngôn nữ quyền, nhưng tôi
hy vọng nó sẽ tạo cảm hứng cho cả hai giới nam lẫn nữ.
Dù dưới hình thức nào, tôi viết quyển sách này cho bất cứ phụ nữ nào
muốn gia tăng cơ hội đạt vị trí tối cao trong lĩnh vực của mình hay mong
muốn theo đuổi hết mình mục tiêu cuộc đời. Bất cứ phụ nữ nào đang ở bất
cứ giai đoạn nào trong cuộc đời hay sự nghiêp, từ người chỉ mới bắt đầu đến
người đang tạm nghỉ và muốn tìm cách quay lại. Tôi cũng viết cho một bộ
phận nam giới muốn tìm hiểu những khó khăn mà phụ nữ phải đối mặt những người là đồng nghiệp, vợ, mẹ, hay con gái của họ - để từ đó góp phần
xây dựng một thế giới bình đẳng.
Quyển sách này cổ vũ phụ nữ thẳng tiến, có tham vọng theo đuổi mục
tiêu của mình. Và mặc dù tôi tin rằng gia tăng số lượng phụ nữ nắm giữ
quyền lực là một yếu tố thiết yếu để đảm bảo bình đẳng thật sự, tôi không
cho rằng chỉ có một định nghĩa duy nhất về thành công hay hạnh phúc.
Không phải phụ nữ nào cũng muốn theo đuổi sự nghiệp. Không phải phụ nữ
nào cũng muốn con cái. Không phải phụ nữ nào cũng muốn toàn vẹn cả đôi.
Tôi không bao giờ hô hào chúng ta phải cùng chung mục đích. Nhiều người
không quan tâm đến quyền lực, không phải vì họ không có tham vọng, mà vì
họ đang sống cuộc đời đúng như họ mong muốn. Có những đóng góp rất
quan trọng cho thế giời này đến từ việc quan tâm chăm sóc cho riêng từng
người. Chúng ta mỗi người đều phải tự thiết lập con đường riêng của mình
và xác định mục tiêu cuộc đời sao cho phù hợp với cuộc sống, giá trị, và ước
mơ của mình.
Tôi cũng hiểu phần lớn phụ nữ vẫn phải vất vả lo cho cuộc sống và
chăm sóc gia đình. Quyển sách này có những phần phù hợp hơn với những
phụ nữ may mắn có quyền chọn lựa làm bao nhiêu, làm khi nào, và làm ở
đâu; và cũng có những phần áp dụng được cho mọi tình huống mà phụ nữ
đối mặt mỗi ngày trong công việc, trong cuộc sống, và trong gia đình. Nếu
chúng ta thành công trong việc đưa tiếng nói phụ nữ ngày càng nhiều hơn ở
các cấp cao hơn, chung ta sẽ mở rộng thêm cơ hội và đối xử bằng cho tất cả
mọi người.
Một số người, đặc biệt là phụ nữ trong giới kinh doanh, đã cảnh báo tôi
về việc công khai tuyên bố những vấn đề này. Khi tôi vẫn cứ lên tiếng, mặc
dù nhiều nhận xét của tôi làm bất bình người trong cả hai giới. Tôi biết một
số người tin rằng khi nhấn mạnh rằng phụ nữ có thể tự thay đổi mình - thúc
giục họ tiến tới - có vẻ như tôi đang làm đảo lộn trật tự thế giới. Hay tệ hơn,
họ kết tội tôi đổ lỗi cho nạn nhân, thay vào đó, tôi tin rằng phụ nữ lãnh đạo
chính là chìa khóa giải quyết vấn đề. Một số nhà phê bình cũng chỉ ra rằng
đối với tôi việc tiến tới là quá đơn giản, vì tôi có nguồn tài chính sẵn sàng hỗ
trợ các nhu cầu của mình. Mục đích của tôi là chia sẻ những lời khuyên hữu
ích ngay ...
 





